DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Tín ngưỡng thờ Gia thần ở Nghệ An - những điều trăn trở
Tin đăng ngày: 9/11/2018 - Xem: 24
 

Quảng Phước

Thờ Gia thần là một loại hình tín ngưỡng phổ biến trong dân gian Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng. Bản chất của tục thờ Gia thần cũng chính là thờ thần nhưng nó được giới hạn trong phạm vi gia đình. Người Việt quan niệm “đất có thổ công, sông có hà bá” nghĩa là ở đâu thì có chủ ở đó. Ở Kinh đô thì có Đô Đại Thành Hoàng, ở làng thì có Thành Hoàng làng và các vị thần linh của làng. Như vậy ở gia đình, trong một phạm vi nhỏ hẹp hơn cũng có những vị thần bảo vệ cho gia đình đó.    

Gia thần là những vị thần cai quản trong phạm vi của một gia đình cụ thể. Gia đình đó được xác lập bởi một không gian cư trú nhất định, có nhà cửa, đất đai, có con người sinh sống ở đó. Gia thần thường được gọi chung là “Ngũ tự phúc thần” hay “Ngũ tự gia thần” tức là 5 phúc thần tại gia. Tại sao lại là năm vị mà không phải là ba vị hay bảy vị hay là một con số khác? Bởi số năm trong quan niệm dân gian chính là “ngũ phúc”. Với mong muốn “ngũ phúc nghênh lai” (năm phúc đưa đến), người xưa đã chọn con số năm vị phúc thần tại gia để bảo vệ cho gia đình luôn được trọn vẹn ngũ phúc. Vậy năm vị này là ai? Trước nay có nhiều quan niệm khác nhau về năm vị gia thần. Có sách cho rằng, năm vị Gia thần bao gồm: Táo (thần Bếp), Tỉnh (thần Giếng), Môn (thần Cổng), Hộ (thần Cửa) và thần Trung Lựu(1) (thần Đất). Có sách lại cho rằng, Gia thần bao gồm: Táo thần (thần Bếp), Thổ công (thần Đất), Tiên Sư (thần quản về nghề nghiệp làn ăn), Môn Gia Hộ Úy (thần giữ cổng), Nhân Súc Y Thần (thần bảo vệ sức khỏe con người và súc vật). Trong hai quan niệm trên thì có hai vị thần trùng nhau hoàn toàn là thần Bếp (Táo) và thần Đất (tức Thổ Công hay Trung Lựu). thần Môn Gia Hộ Úy của thuyết thứ hai là sự kết hợp của thần Cổng (Môn) và thần Cửa (Hộ) của thuyết thứ nhất. Các vị còn lại thì khác nhau. Để biết được tại sao lại có những khác biệt đó, chúng ta cần truy nguyên xuất xứ của tín ngưỡng và của từng vị thần.

Tín ngưỡng thờ Gia thần có nguồn gốc từ Trung Quốc cổ đại đã được ghi chép trong Lễ ký, gồm Táo, Tỉnh, Môn, Hộ và Trung Lựu. Tín ngưỡng này du nhập vào Việt Nam từ lâu đời. Người Việt đã Việt hóa tục thờ gia thần theo văn hóa bản địa.

Đối với Thần Đất và Táo Quân ở cả Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng. 

Chọn mặt đất làm nơi cư trú là một bước tiến hóa của loài người. Con người có nguồn gốc từ loài linh trưởng sinh sống trên cây cao, đi bằng bốn chân nay rời bỏ nơi đã gắn bó hàng triệu năm để xuống một môi trường mới hoàn toàn xa lạ, đi bằng hai chân - đó là mặt đất. Con người nhờ đó mà tiến hóa dần trở thành loài tinh anh nhất trong các loài mà tạo hóa sinh ra. Do vậy, trong tâm thức của con người luôn tôn trọng đất, coi đất như có thần và hình thành nên tập tục thờ thần đất. Tín ngưỡng thờ thần đất là tín ngưỡng phổ biến trên thế giới, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc.      

Việc thờ Táo Quân tức thần Lửa là tín ngưỡng cổ xưa của loài người, không riêng gì ở Trung Quốc hay Việt Nam mà rất nhiều dân tộc trên thế giới có tục thờ lửa. Bởi tìm ra lửa là một phát minh vĩ đại của loài người, nó đưa loài người từ cuộc sống mông muội trở thành văn minh, từ bỏ lối “ăn tươi nuốt sống” thành “ăn chín uống sôi”, giúp sưởi ấm, xua đuổi thú giữ... Đây là một bước ngoặt lớn trong sự phát triển của lịch sử loài người. Vì vậy, hình thành nên tín ngưỡng thờ Lửa, mà ở Việt Nam và Trung Quốc được chuyển hóa thành thờ Táo Quân /Hỏa Thần. Riêng ở Việt Nam, Táo Quân không phải chỉ có một vị mà là ba vị, được dân gian huyền thoại hóa thành câu chuyện “hai ông một bà” đầy tính nhân văn. Bộ ba đó được phân công những nhiệm vụ khác nhau, người cai quản bếp núc, người cai quản chuyện chợ  búa, người cai quản đất đai tài sản. Ngoài ra, Táo Quân còn có nhiệm vụ giám sát việc thiện, ác, phúc, họa, bổn mạng, sức khỏe... của các thành viên trong gia đình.   

Các vị còn lại trong Ngũ tự phúc thần thì có những sự khác biệt vì: 

Không gian nhà ở của người Trung Quốc thường có tường cao cổng kín, các ngôi nhà thường xây tường, cửa ra vào được đóng mở bằng hệ thống cánh cửa, muốn vào khuôn viên gia đình phải mở cánh cửa cổng, muốn vào trong ngôi nhà phải mở cánh cửa nhà. Môn (cổng) và Hộ (cửa) tách bạch rõ ràng và đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ ngôi nhà. Vì vậy thần Môn (cổng) và thần Hộ (cửa) được thờ riêng. Nhưng đối với không gian sinh hoạt của một gia đình người Việt lại hoàn toàn khác. Nhà ở của người Việt đại bộ phận là nhà tranh vách đất, bao bọc xung quanh chủ yếu là bờ tre, bụi dứa, cổng ra vào thường chỉ được định hình bằng hai cọc tre đóng hai bên, khi đi đâu hoặc ban đêm thì lấy cành cây để ngang cổng báo hiệu cho người ngoài biết. Nhà tranh nên cửa ra vào cũng chỉ là tấm liếp đan bằng tre, khi đi vắng thì hạ xuống. Nói chung là sự bảo vệ xung quanh ngôi nhà rất sơ sài, nhiều khi cổng cũng không có lối đi cụ thể, nhà cũng không có cánh cửa để đóng lại, qua cổng là vào nhà luôn, người ngoài rất dễ xâm nhập vào nhà, dân gian có câu “làng thương hơn nương kín”. Vì thế người Việt đã gộp thần Môn (cổng) và thần Hộ (cửa) thành Môn Gia Hộ Úy (thần coi giữ cổng và cửa nói chung).        

Trong khuôn viên nhà ở của người Trung Quốc thường có giếng nước để cung cấp nước sinh hoạt cho gia đình. Mà nguồn nước là thứ quan trọng bậc nhất đối với cuộc sống con người nên hình thành nên tục thờ thần Thần Giếng (Tỉnh). Đối với người Việt Nam xưa ít có gia đình nào đào giếng trong khuôn viên nhà ở của mình. Bởi người Việt chủ yếu định cư bên các dòng sông, dòng suối nên nước để sinh hoạt thường lấy trực tiếp từ sông, suối hoặc từ các giếng làng. Vì vậy không có tục thờ thần giếng tại gia là vì vậy (có giếng đâu mà thờ).  

  Việc thờ Tiên Sư (thần quản về nghề nghiệp làm ăn) và Nhân Súc Y Thần (thần bảo vệ sức khỏe con người và súc vật) là nét riêng trong tín ngưỡng thờ Ngũ tự phúc thần của người Việt. Tập tục thờ này được hình thành khi xã hội đã phát triển đến trình độ tạo ra các ngành nghề để sinh nhai. Muốn nuôi sống một gia đình thì thành viên trong gia đình đó phải có nghề nghiệp để tạo ra của cải vật chất. Từ đó nảy sinh việc phải thờ vị thần cai quản về nghề nghiệp làm ăn đó là Tiên Sư. Nhưng vị thần Tiên Sư được thờ ở đây mang tính chất chung chung, không chỉ cho một nghề nghiệp cố định nào cả, khác với các tiên sư tổ nghề. Khi con người đã có cái ăn, cái mặc rồi lại mong muốn cho được mạnh khỏe, cường tráng nên cần thờ thần bảo hộ sức khỏe. Không chỉ bảo hộ sức khỏe cho con người mà còn cần bảo hộ sức khỏe cho cả vật nuôi trong gia đình. Vì vật nuôi cũng là tài sản quý của gia đình thậm chí được xếp vào “đầu cơ nghiệp”. Vì vậy hình thành tục thờ Nhân Súc Y Thần. Thời xưa, hàng năm các gia đình thường cúng thần Ngưu Lan để cầu cho trầu bò, lợn gà và các loài vật nuôi nói chung được mạnh khỏe, sinh sản tốt chính là cúng Nhân Súc Y Thần trong Ngũ tự phúc thần.               

Trong Ngũ tự gia thần thì Táo Quân (thần Bếp) được xếp đứng đầu, gọi là “nhất gia chi chủ” (chủ đứng đầu của một gia đình), trong văn cúng Táo Quân ngày 23/12 có câu “ngài là vị chủ Ngũ Tự Phúc Thần”. Bởi bếp lửa tượng trưng cho sự quần tụ, cho mái ấm gia đình, cho sự liên kết các thành viên trong gia đình, nơi giữ gìn hơi ấm cho cuộc sống. “Như là mặt trời, bếp làm cho mọi người gần nhau hơn bởi hơi ấm và ánh sáng của nó - đó cũng là nơi đun nấu thức ăn - vì vậy bếp là trung tâm của cuộc sống, cuộc sống được ban cho và sinh sôi. Bởi vậy, bếp được tôn kính trong tất cả các xã hội;... nơi con người cầu xin sự bảo hộ của Thượng Đế... Bếp của gia đình đóng vai trò trung tâm hoặc cái rốn của thế giới”(2). Táo Quân còn được dân gian suy tôn là “Định phúc Táo Quân” tức là định đoạt phúc đức cho gia đình. Bởi theo quan niệm dân gian, Táo Quân là vị thần thay mặt Thượng Đế cai quản nhân gian, ghi chép việc thiện ác của người trần. Hàng năm, đến 23 tháng Chạp, Táo Quân lại về trời chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế để báo cáo công việc của năm qua. Như vậy, Táo Quân được coi như là Khâm sai Đại thần của Thiên Đình. Vì thế, trong năm vị gia thần, Táo Quân được xếp đứng đầu là hợp lý.  

Gia thần cai quản mọi việc trong nhà nên khi gia chủ có bất kỳ việc lớn nhỏ, vui buồn đều cầu cúng các vị để cầu xin được phù hộ, như ngày rằm, mồng một hàng tháng, các ngày lễ tết trong năm, sinh con, đầy tháng, đầy năm, kỵ giỗ, động thổ, đi thi, thi đậu hoặc nhà có người ốm, người mất... Thậm chí ngày giỗ cũng phải cáo trước với các vị Gia thần để xin phép cho các vong linh gia tiên được về nhà hưởng lễ. Qua đó cho thấy tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của Gia thần đến đời sống tâm linh của người dân Việt.        

Mối quan hệ giữa Gia thần với Gia tiên (ông bà tổ tiên) trong gia đình rất đặc biệt. Gia thần cai quản mọi việc, định đoạt họa phúc của gia đình nên thuộc hàng quan trọng nhất, nhưng gia tiên lại sinh thành ra ta nên đáng được tôn kính nhất. Để hài hòa giữa hai bên, người Việt bài trí thờ Gia tiên ở gian chính giữa nhà (thường gọi là gian bảy) là nơi trang trọng nhất trong ngôi nhà, còn Gia thần thì thờ ở gian bên trái (theo Ngũ hành thì bên trái -phương Đông là nơi quan trọng thứ hai sau trung tâm) và cao hơn bàn thờ Gia tiên. Một bên ở nơi trang trọng nhưng vị trí thấp, một bên ở nơi kém hơn nhưng vị trí cao. Mối quan hệ giữa Gia thần và Gia tiên chẳng khác quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh(3).

Ngũ tự gia thần là năm phúc thần nhưng người Nghệ An chỉ chú trọng Táo Quân, Thổ Công và Tiên Sư. Trong các bài văn cúng cổ, vị hiệu của các thần thường viết là “Bản Gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân, Bản Viên Thổ Công, Bản Đường Tiên Sư”. Đặc biệt, Táo Quân và Thổ Công còn có cả kinh văn lưu truyền trong dân gian. Hiện nay, ở các Thiện đàn còn rất nhiều bản kinh cổ viết bằng chữ Hán Nôm “Táo vương chân kinh” “Thổ địa chân kinh”. Nội dung của các bản kinh này nói về lai lịch của các thần, nhiệm vụ Tư mệnh, Khâm sai của các thần... Riêng Táo Quân còn có cả linh xăm (quẻ xăm), khi gia chủ có việc thắc mắc, nghi vấn có thể xin quẻ Táo Quân tương tự như xin quẻ ở các đền miếu thờ thần linh khác. Hai vị Môn Gia Hộ Úy và Nhân Súc Y Thần ít thấy xuất hiện danh hiệu riêng mà thường gọi chung trong cụm từ “Ngũ tự phúc thần”. Thông thường hai vị này chỉ xuất hiện trong các lễ cúng riêng biệt như lễ mở cổng hoặc ngăn cổng thì cúng thần Môn Gia Hộ Úy, lễ cúng đầu năm để cầu cho trâu bò, súc vật mạnh khỏe, sinh sản tốt, thường gọi là lễ Ngưu Lan thì cúng thần Ngưu Lan (tức Nhân Súc Y Thần). Nhưng lễ Ngưu Lan hiện nay hầu như không còn được thực hiện.     

Truyền thống của người Kinh ở Nghệ An hầu hết các gia đình đều có ban thờ Gia thần. Ban thờ Gia thần thường được lập riêng ở phía đốc nhà và cao hơn bàn thờ Gia tiên. Qua khảo sát các văn bản Hán Nôm cổ như Thọ Mai Gia jễ, các sách văn cúng, gia phả các gia đình, dòng họ... cho thấy trong nghi lễ cổ truyền ở Nghệ An thường có những bài văn cúng dành riêng cho Gia thần vào những dịp lễ tiết trong năm hoặc các lễ không định kỳ, như: lễ Sóc vọng (mồng một, rằm), lễ Nguyên Đán, Khai hạ (7/1 ÂL), Thượng nguyên (15/1 ÂL), Đoan ngọ (5/5 ÂL), Trung nguyên (15/5 ÂL), lễ Thường tân (15/10 ÂL), 23 tháng Chạp, cúng Phần sài (nhóm lửa khai bếp), cúng Tạ bếp, cúng Khai môn (mở cổng), cúng nhân ngày giỗ gia tiên, cúng chẵn tháng con... Trong các nghi lễ cúng Gia tiên thì Gia thần được mời ở cuối cùng của bài văn cúng với mục đích là đến chứng giám cho buổi lễ “cung thỉnh/kính thỉnh: Bản Gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân, Bản Viên Thổ Công, Bản Đường Tiên Sư, Ngũ Tự Phúc Thần đồng lai giám cách. Phục duy cẩn cáo” (nghĩa là: Kính mời các thần Bản Gia Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân, Bản Viên Thổ Công, Bản Đường Tiên Sư, Ngũ Tự Phúc Thần cùng đến chứng giám. Thành tâm kính cáo). Như vậy chứng tỏ rằng thời xưa, Gia thần không thờ chung với Gia tiên. Trước khi cúng Gia tiên thì gia chủ đã làm lễ cúng Gia thần nên khi cúng Gia tiên chỉ cần mời Gia thần đến với tư cách chứng giám cho buổi lễ đó chứ không phải là nhân vật chính của buổi lễ.       

Khác với các vùng miền khác, ở Nghệ An chỉ có một ban thờ chung cho tất cả các vị Gia thần và bài trí đơn giản, không có bài vị hay tranh ảnh thờ. Người Nghệ An không quan niệm thần cai quản việc nào thì phải thờ ở vị trí đó như thần Bếp thì phải thờ ở bếp, Thần Cổng phải thờ ở cổng, thần Đất phải thờ dưới đất... Bởi người Nghệ chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo nên đối với việc thờ phụng thần linh đều mang tính thiêng liêng, trang trọng, thành kính. Vì vậy không bao giờ thờ thần ở những nơi thiếu trang trọng hoặc uế tạp. Đồng thời, người Nghệ An vốn có tư duy thực dụng, ăn chắc mặc bền, tiết kiệm nên mọi việc đều đơn giản hóa. Vì vậy, người Nghệ đã gộp tất cả các vị trong Ngũ tự gia thần lại thờ chung một ban thờ.

Những điều trăn trở trong việc thờ Gia Thần ở Nghệ An hiện nay

Hiện nay, ở Nghệ An tín ngưỡng thờ Gia thần vẫn được duy trì. Tuy nhiên có nhiều biến đổi và việc thờ phụng phức tạp hơn so với trước đây. Kết cấu ngôi nhà thay đổi khác với ngôi nhà truyền thống do đó không gian thờ cúng cũng thay đổi theo. Cộng với đời sống vật chất được nâng cao, con người tất bật với những mưu sinh, danh vọng nên luôn cầu mong có sự giúp đỡ của thần linh. Vì thế, việc thờ phụng Gia thần cũng được chú trọng hơn, nhất là những vị thần cai quản công danh, tài lộc.

Hầu hết các gia đình ở thành phố thường nhập bàn thờ Gia thần chung với bàn thờ Gia tiên để phù hợp với không gian chật hẹp của ngôi nhà nơi phố phường và thuận tiện trong việc thờ cúng. Việc nhập chung bàn thờ Gia Thần và Gia Tiên tuy có thuận tiện hơn trong việc thờ cúng nhưng cũng có những bất cập nhất định. Thông thường ở những trường hợp này, trên bàn thờ có ba bát hương: ở giữa cao hơn là Bát hương Gia thần, ở hai bên thấp hơn là bát hương Gia tiên và bát hương Bà Cô; phía sau bát hương thường có long ngai/giá gương/khám hoặc di ảnh của Gia Tiên. Tuy bát hương của Gia thần được bài trí cao hơn bát hương Gia Tiên nhưng long ngai/giá gương/khám hoặc di ảnh của Gia Tiên lại còn cao hơn cả bát hương Gia thần như vậy chẳng khác nào Gia Tiên vẫn ngồi ở vị trí cao hơn Gia thần.

Nhiều gia đình vẫn giữ phong tục thờ riêng Gia thần và Gia tiên nhưng ít người hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng Gia thần mà chỉ lập theo thói quen, bắt chước theo hàng xóm. Một số gia đình còn lập am thờ Thổ công riêng ở trước sân nhà. Có gia đình lại lập quá nhiều bàn thờ Gia thần: vừa có am thờ Thổ công trước sân, vừa có ban thờ Ngũ tự phúc thần ở phía nhà, vừa có ban thờ Táo quân trong bếp nấu... Nói chung, việc thờ Gia thần trở nên phức tạp, rối rắm, hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào sự hướng dẫn của “thầy cúng”. Thậm chí các lễ cúng thường ngày ở trong gia đình còn đọc cả vị hiệu của Hoàng Thiên, Hậu Thổ, Bản Cảnh Thành Hoàng, Bản Xứ Long Quân Chúa Mạch Thổ Địa Tôn Thần, Ngũ Phương Thổ Công...

Đặc biệt, trong những năm gần đây, tục thờ Thần Tài, Thổ Địa trong góc nhà được du nhập từ miền Nam ra phía Bắc, trong đó có Nghệ An. Tục thờ này vốn là của người Hoa ở miền Nam Việt Nam. Theo quan niệm của người Hoa, Thần Tài là vị thần cai quản tiền tài, sự tích của thần như sau: “Ngày xưa, có một người lái buôn Trung Hoa tên là Âu Minh khi đi qua hồ Thanh Thảo tình cờ gặp Thủy Thần, được Thủy Thần cho một người gia nhân tên là Như Nguyện. Âu Minh đem Như Nguyện về nuôi ở trong nhà, từ đó công việc làm ăn của Âu Minh mỗi ngày một phát đạt. Trong một ngày Tết, vì một lý do nào đó, Âu Minh đánh Như Nguyện. Như Nguyện quá sợ hãi bèn chui vào đống rác và biến mất. Từ đó Âu Minh làm ăn thua lỗ, chẳng mấy chốc nghèo xác nghèo xơ. Người ta bảo Như Nguyện là Thần Tài và lập bàn thờ Như Nguyện, cũng chính vì thế mà bàn thờ Thần Tài thường nằm ở một góc trong xó nhà”. Thổ Địa là vị thần cai quản đất đai, điền trạch. Mà đất là nơi sản sinh và tàng chứa vàng bạc, châu báu (“Thổ năng sinh bạch ngọc, Địa khả xuất hoàng kim” nghĩa là “Đất hay sinh ngọc trắng, Đất khá sản vàng ròng) do đó Thổ Địa được thờ chung với Thần Tài. 

Sau này, người Việt ở miền Nam tiếp thu tập tục thờ Thần Tài, Thổ Địa của người Hoa và đi theo bước chân của những người kinh doanh, thương mại truyền bá ra phía Bắc. Trong nền kinh tế thị trường thời mở cửa thì thương trường như chiến trường, mọi thứ đều khó khăn, con người ta luôn cầu mong được sự giúp đỡ của các thế lực vô hình để kiếm được thật nhiều tiền tài, danh vọng. Vì thế khi tục thờ Thần Tài, Thổ Địa du nhập ra phía Bắc nhanh chóng được người dân tiếp nhận - nhất là những gia đình làm nghề kinh doanh, thương mại. Bởi nó phù hợp với thị hiếu của các đối tượng này. Từ đó, nó lan tỏa ra cả những đối tượng khác. Rất nhiều cửa hàng, cửa hiệu và gia đình lập ban thờ Thần Tài, Thổ Địa ở góc nhà nhưng lại không hiểu được bản chất của việc thờ cúng đó là không phù hợp với văn hóa truyền thống của người Nghệ và thậm chí là thừa. Tại sao lại như vậy? Vì người Nghệ quan niệm, việc thờ cúng phải thực hiện ở những nơi trang nghiêm, thanh tĩnh, tinh khiết nhưng ở đây lại đặt bàn thờ ở trong góc nhà là nơi thường xuyên qua lại, bụi bặm, uế tạp rất phản cảm. Đồng thời trong tín ngưỡng thờ Gia Thần (Ngũ Tự Phúc Thần) đã bao hàm cả Thần Tài và Thổ Địa. Nếu lập thêm ban thờ thì vô hình chung một vị thần mà có hai nơi thờ khác nhau, một nơi thì thờ trên cao thậm chí còn cao hơn cả bàn thờ gia tiên, một nơi thì thờ dưới đất. Đó là chưa kể đến vấn đề hỏa hoạn, phòng cháy chữa cháy. Bởi hầu hết các cửa hàng với không gian chật hẹp, phần lớn diện tích được sử dụng cho việc kinh doanh, nhiều cửa hàng kinh doanh những sản phẩm dễ bắt lửa, dễ phát nổ như giấy, sách báo, quần áo, xăng dầu ... thì việc thắp hương hàng ngày là một vấn đề tiềm ẩn nhiều nguy cơ cháy nổ. Rất nhiều nơi bị cháy chợ, cháy cửa hàng, công xưởng mà nguyên nhân chính từ bàn thờ Thần Tài, Thổ Địa ở trong xó nhà.     

Tín ngưỡng thờ Gia thần là một tín ngưỡng có nguồn gốc lâu đời, xuyên suốt trong quá trình phát triển của người Việt. Với quan niệm “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” nên người Việt nói chung và người Nghệ An nói riêng thờ các vị thần cai quản trong phạm vi gia đình với mong muốn được thần linh che chở cho cuộc sống bình yên. Trong tâm thức của con người, mỗi việc làm hàng ngày của mình đều có thần linh giám sát, ghi chép nên người ta sẽ hạn chế những việc ác và tích cực làm những việc thiện. Vì thế, tín ngưỡng thờ Gia thần sẽ còn mãi với thời gian. Tuy nhiên cần có những định hướng cho nhân dân hiểu được bản chất của tín ngưỡng này để thực hành đúng văn hóa truyền thống, đồng thời giữ gìn bản sắc của địa phương, tránh lai căng, tránh chạy theo phong trào, thờ mà không hiểu mình đang thờ ai, vị thần đó như thế nào. 

 

Chú thích

  1. Về thần Trung Lựu cũng có nhiều cách giải thích khác nhau. Ở đây theo thiên Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký viết rằng:“Trung ương thổ, kỳ đế Hoàng Đế, kỳ thần Hậu thổ. Kỳ trùng lõa. Kỳ âm cung, luật trung Hoàng chung chi cung. Kỳ vị cam, kỳ xú hương. Kỳ tự Trung Lựu, tế tiên tâm” (Thổ ở trung ương, có đế là Hoàng đế, thần là Hậu thổ. Chủ về hổ báo, về âm nhạc (nó) thuộc âm “Cung”, về luật thuộc cung “Hoàng chung”. Số của nó là năm, vị của nó là ngọt, mùi của nó là hôi. Lễ tế thổ ở Trung Lựu, kẻ tế tượng trưng cho vua). Như vậy thần Trung Lựu là Thổ Thần/Thổ Công (Thần Đất).
  2. Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc, (2013), Đặc khảo về tín ngưỡng thờ gia thần, Nxb Văn hóa Văn Nghệ, Tp HCM, trang 37.
  3. Trần Ngọc Thêm, 2000, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 139.

 

Diễn đàn khác:
Dân số già hóa nhanh: Việt Nam đã sẵn sàng ? (14/11/2018)
Tín ngưỡng thờ Gia thần ở Nghệ An - những điều trăn trở (9/11/2018)
Định giá lại “nông nghiệp, nhà nước, văn minh”? (16/10/2018)
Hướng đi nào cho nông thôn mới? (9/10/2018)
Đôi điều suy ngẫm về đạo đức công vụ trong tình hình hiện nay (11/9/2018)
Vẻ đẹp cá tính người phụ nữ trong bài thơ "Bánh trôi nước" (10/9/2018)
Dùng một lần (7/9/2018)
Đánh vần thì đánh, đừng đánh thầy Đại (7/9/2018)
Khi nông dân chán... đại học (6/9/2018)
Đối thoại với nhà nghiên cứu Trương Công Anh về kinh doanh rừng tổng hợp (31/8/2018)
Với cuộc cải cách bộ môn Ngữ văn ở bậc phổ thông hiện nay - Đôi điều tôi muôn nói (31/8/2018)
Về sách giáo khoa bậc phổ thông - Như tôi hiểu và mong muốn (8/8/2018)
Mấy suy nghĩ trong việc đánh giá đúng cán bộ (7/8/2018)
Quản trị nhân lực công (7/8/2018)
Tham nhũng vẫn rất nghiêm trọng! (2/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,595 | Tất cả: 1,508,655
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp