ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Tiến sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục, khoa bảng ở Quảng Nam
Tin đăng ngày: 9/11/2018 - Xem: 22
 

 

Trần Văn Dũng - Huỳnh Ngọc Quốc

 Upload

Tiến sĩ Trần Đình Phong (1843 - 1909)

Quảng Nam dưới thời triều Nguyễn nổi lên là vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi sản sinh ra các bậc chí sĩ yêu nước kiệt xuất như Phan Châu Trinh, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Khoáng,… là xứ có truyền thống cần cù, hiếu học được người đời xướng tên “Ngũ phụng tề phi”(1). Để có được những thành quả, danh trạng như vậy cơ yếu vẫn là sự nỗ lực, cố gắng vươn lên của các bậc hiền tài, nhưng cũng phải kể đến những bậc hiền triết, những người đã có công đưa đò, dạy dỗ, vun trồng, dẫn lối họ đến bến bờ của thành công. Người mà chúng tôi muốn nói đến ở đây là Tiến sĩ Trần Đình Phong. Trần Đình Phong tuy không sinh ra tại Quảng Nam nhưng sự nghiệp, công danh, cống hiến của ông gắn liền với vùng đất xứ Quảng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của Tiến sĩ Trần Đình Phong, đặc biệt là những đóng góp to lớn cho giáo dục, khoa bảng tại Quảng Nam trong thời gian ông được cử làm Đốc học tại đây.

Vài nét về quê hương, gia thế của Tiến sĩ Trần Đình Phong

Trần Đình Phong, tự là Úy Khanh, hiệu Mã Sơn, sinh năm Quý Mão (1843) tại làng Yên Mã, tổng Quy Trạch, huyện Yên Thành, phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; nay thuộc xã Mã Thành, huyên Yên Thành, tỉnh Nghệ An(2). Thuở nhỏ ông được gia phụ gọi tên là Nho Bằng, với khí chất khỏe mạnh, thông minh cộng với bản tính hiền lành nên Trần Đình Phong rất được lòng người dân thôn xóm. Khi đến tuổi đi học, ông được nhà nho Bùi Huy Chân nổi tiếng là người đức độ nhận dạy. Với bản chất cần cù, sáng dạ, ông học đâu hiểu đó nên rất được bạn đồng môn kính nể, được thầy tin yêu.

Huyện Yên Thành, nơi Trần Đình Phong sinh ra và lớn lên được biết đến là vùng đất học nổi tiếng ở Nghệ An. Trong đó, người mở đầu cho truyền thống khoa bảng tại đây và cả xứ Nghệ là Trạng nguyên Bạch Liêu tại khoa thi Bính Dần năm Thiệu Long thứ chín (1226) đời vua Trần Thánh Tông. Từ đó về sau, theo các tài liệu đăng khoa lục thì huyện Yên Thành có 22 vị đỗ đại khoa, trong đó có 4 vị Trạng nguyên (cả Nghệ An có 6 vị Trạng nguyên), 3 vị Thám hoa, 3 vị Hoàng giáp, 7 vị Tiến sĩ, 4 vị Phó bảng. Tổng Quy Trạch có 4 Trạng nguyên, 2 Hoàng giáp, 4 Tiến sĩ, 20 Cử nhân, 192 Tú tài(3). Truyền thống hiếu học, khổ học và học giỏi của nhân dân huyện Yên Thành được nuôi dưỡng và phát huy suốt chiều dài lịch sử. Tiếp bước truyền thống học hành đỗ đạt của những danh sĩ cùng quê, Trần Đình Phong tự biết, chỉ có ý chí cố gắng, nỗ lực của bản thân mới có thể tiếp bước những danh trạng mà các bậc tiền bối đi trước đã hiển danh, làm rạng rỡ cho quê hương, dòng tộc. Chính động lực đó đã giúp ông không ngừng phấn đấu, chuyên tâm dùi mài kinh sử, với quyết tâm một ngày sẽ công thành danh toại, xứng đáng với sự tin tưởng, kỳ vọng của gia đình, thầy giáo và bạn bè đồng môn.

Sự nghiệp

Con đường học hành, khoa bảng

Trần Đình Phong là người thông minh, sáng dạ, học hành nhanh trí. Những bài giảng từ trên lớp được ông tiếp thu và học thuộc rất nhanh, đặc biệt, ông còn biết và làm thơ rất hay, cùng với cung cách sống có đạo, có nghĩa nên thầy giáo bạn bè hết mực quý trọng, tin tưởng. Trải qua nhiều năm tháng khổ học, sự nỗ lực, cố gắng của ông được đền đáp xứng đáng khi vào khoa thi Hương năm Tự Đức 21 (1868), ông thi đỗ Tú tài, khi đó mới 25 tuổi. Cứ tưởng đó chính là động lực cho sự tiếp nối những thành công ở các khoa thi tiếp theo. Tuy nhiên, ông lại thiếu một ít may mắn để làm được điều đó. Tại kỳ thi tiếp theo năm 1870, Trần Đình Phong không thể đỗ đạt cao hơn mà chỉ dừng lại ở mức đậu tú tài, vì nguyên cớ đó mà mọi người gọi ông là “Kép Bằng”.

Tuy vậy, với ý chí kiên cường, “thất bại mà không nản”, Trần Đình Phong tiếp tục dùi mài kinh sử, chuyên tâm học hành, khắc phục những hạn chế còn thiếu sót ở hai lần thi Hương trước đó, làm kinh nghiệm cho đợt thi tiếp theo được chắc chắn. Quả ngọt cho sự cố gắng, cần cù cuối cùng cũng tới, tại khoa thi năm Bính Tý, triều vua Tự Đức thứ 29 (1876), ông thi đỗ Cử nhân (cùng khoa với Phan Đình Phùng, Cao Xuân Dục); năm Kỷ Mão, triều Tự Đức thứ 32 (1879), triều đình mở ân khoa, ông tiếp tục thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (cùng khoa với Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Đôn Tiết, Đỗ Huy Liệu)(4). Năm đó ông đã 36 tuổi, cái tuổi mà những tinh hoa tri thức đều được ông lĩnh hội một cách uyên bác. Để rồi, bằng sự cố gắng không ngừng nghỉ, lòng hiếu thảo với gia đình, hiếu đạo với người thầy, cùng lòng tự tôn của người con được sinh ra tại vùng đất học lâu đời, Trần Đình Phong đã đạt được công danh mà biết bao sĩ tử phải mơ ước. Qua đó, làm rạng rỡ cho quê hương, dòng tộc và gia đình.

Con đường hoạn lộ của Tiến sĩ Trần Đình Phong

Sau khi đỗ Tiến sĩ xuất thân, Trần Đình Phong được triều đình phong Hàn Lâm Sơ Phụ, đảm nhận trọng trách biên tu lịch lý ở Viện Hàn lâm. Bằng sự mẫn cán và tinh tế của bản thân, ông luôn hoàn thành tốt những công việc được giao phó. Một thời gian sau, Trần Đình Phong tiếp tục được tin tưởng, bổ nhiệm làm Tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa), kiêm Lý cả huyện Bình Giang (nhân dân thời đó hay gọi ông là lưỡng phủ tri phủ). Với tấm lòng nhân đức, thương dân, chí công vô tư, cùng với cương vị đứng đầu hai phủ, ông ra sức bỏ tâm huyết của mình để giúp dân sản xuất, làm ăn, an cư lạc nghiệp, được nhân dân hết lòng tin yêu, kính trọng.

Năm 1885, nhận được tin mẹ mất tại quê nhà, Trần Đình Phong xin phép về quê chịu tang. Những ngày ở tại quê hương, ông chiêm nghiệm lại cuộc đời, thế sự, tương lai của bản thân và đưa ra quyết định thôi quan, tránh xa chốn quan trường đầy ải những thị phi, phức tạp. Ông ở lại quê nhà, thực hiện mong ước của mình bằng con đường dạy học. Trong thời gian này, kinh đô Huế thất thủ trước sức mạnh của thực dân Pháp, vua Hàm Nghi được Thượng thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết đưa lên căn cứ Tân Sở (Quảng Trị) để tiếp tục kháng chiến. Tại đây, Tôn Thất Thuyết thay mặt vua ra chiếu Cần vương, từ đó nhân dân khắp nơi nổi dậy hưởng ứng chống Pháp. Tại quê nhà, Trần Đình Phong cũng tích cực tham gia nghĩa quân của cụ Nghè Nguyễn Xuân Ôn. Ngoài ra, ông còn động viên con cháu, họ tộc cùng nhân dân thôn xóm cùng hợp nhất chí nguyện đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.

Tuy vậy, sau khi mãn tang, Trần Đình Phong tiếp tục được triều đình bổ nhiệm làm quan, chuyên trách giữ chức Đốc học tỉnh Quảng Ngãi(5). Năm Tân Mão (1891) được vua Thành Thái cử làm Giám khảo khoa thi Hương ở Hà Nam. Sau đó, tái bổ Tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa). Đến năm Mậu Tuất (1893) vua Thành Thái xuống chỉ thăng ông làm Đốc học tỉnh Quảng Nam. Trong thời gian làm việc tại đây, ông đã góp không ít công sức cho nền giáo dục, khoa bảng của vùng đất xứ Quảng. Với những công lao đóng góp, năm 1894, ông được thăng Thị giảng học sĩ, phong Quang Lộc tự thiếu khanh, làm giám khảo khoa thi Hương ở Thừa Thiên(6).

Năm Canh Tý (1900) Trần Đình phong được cử là Phó Chủ khảo kỳ thi Hương tại Thanh Hoá, với cương vị đó Trần Đình Phong đã đề nghị triều đình cử cụ Nguyễn Sinh Sắc, cha của Nguyễn Sinh Cung (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) sung vào bộ phận sơ khảo, lúc này Nguyễn Sinh Sắc đang học Quốc Tử Giám. Năm Tân Sửu (1901), Nguyễn Sinh Sắc dự kì thi Hội, kết quả không đạt để vào thi Đình nhưng Trần Đình Phong (lúc này giữ chức duyệt quyển kì thi) đã can thiệp và cho đặc cách vào thi Đình và đậu Phó bảng(7).

Năm Ất Tỵ (1905), Trần Đình Phong được thăng Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng Trường Quốc học Huế), ông giữ chức vụ này cho đến năm Mậu Thân (1908) dưới triều Duy Tân. Sau đó, ông được bổ làm Biên Tu Quốc sử và làm việc tại đây cho đến cuối đời.

Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Đình Phong để lại cho đời nhiều áng thơ, văn, cũng như các công trình sử học. Trong đó, đáng kể nhất là “Quốc triều chánh biên toát yếu” và “Quảng Nam tỉnh phú”. Quốc triều chánh biên toát yếu do ông biên soạn. Sách gồm 7 quyển, soạn vào năm Duy Tân thứ hai (Năm Mậu Thân, 1908), do Cao Xuân Dục làm Tổng tài, Đặng Văn Thụy, Lê Hoàn hiệu đính.

Đây là bộ sử lược, rút gọn từ bộ Đại Nam Thực lục Tiền biênChánh biên của Quốc sử quán triều Nguyễn. Sách tóm tắt các sự kiện lịch sử để người đọc có một khái niệm giản yếu về các biến cố lịch sử xảy ra suốt chiều dài lịch sử mà không nghiên cứu, phân tách, phê phán hoặc bình luận các sự kiện đó. Chính vì vậy mà nhan đề bộ sử có một cái tên khiêm nhường: Quốc triều chánh biên toát yếu. Sách này được dịch ra Quốc ngữ vào năm 1924, in và phát hành cho các trường học ở Trung kỳ và Bắc kỳ làm sách giáo khoa để học(8).

Bên cạnh đó, ông còn để lại nhiều cuốn sách có giá trị, đó là: Trần tộc thế phả; Quỳ Trạch Đăng khoa lục (cuốn sách đã ghi chép những người thi đỗ từ bậc hiếu sinh trở lên, phần viết kĩ nhất là những người đỗ thi Hương, thi Hội và thi Đình (tức Hương khoa và Đại khoa); “Thanh Khê xã chí” (sách viết về duyên cách địa lý, đặc điểm núi sông, đồn điền, con người, phong tục, tập quán dân cày cấy và cho kiểm tra thường xuyên việc thu các thứ thuế, đinh điền, không cho bọn chức trách làm loạn nên dân chúng nơi nơi đều nghe tiếng và biết ơn Trần Đình Phong).

Có thể thấy rằng, chính sự mẫn cán, cần cù, tâm huyết, mà Trần Đình Phong liên tục được các đời vua từ Tự Đức đến Duy Tân tin tưởng, bổ nhiệm vào các vị trí khác nhau và mang chức vị ngày càng cao. Dù ở cương vị nào, ông cũng dốc lòng đem tâm sức, trí tuệ, đức độ của bản thân để phục vụ tận lòng cho nhân dân, đất nước.

Đốc học Trần Đình Phong với sự nghiệp giáo dục, khoa bảng ở Quảng Nam

Tiến sĩ Trần Đình Phong là một người rất tâm huyết với giáo dục, vì thế, sau khi nhận chức Đốc học Quảng Nam năm 1893, ông đã ra sức dùng tâm, dùng đức độ của mình để trực tiếp dạy dỗ, khuyến khích sĩ tử xứ Quảng chuyên tâm học hành, tu dưỡng đạo đức, để có ngày công thành danh toại, đứng ra giúp đời giúp nước.

Tác phẩm “Quảng Nam tỉnh phú” được Trần Đình Phong sáng tác trong thời gian được cử làm Đốc học tại đây đã khái quát một cách tổng thể nhất về vùng đất, con người cũng như danh trạng, khoa bảng của các sĩ tử xứ Quảng:

“Quảng Nam, phía tả kinh kỳ, phần sao Thuần, Vĩ

Phủ hai, huyện sáu, tổng bốn mươi lăm;

Xã một nghìn dư, đinh năm vạn lẻ,

Ruộng đất hơn ba muôn mẫu,

Tô thuế đến năm vạn linh.

Trải xem non cao thủy thanh, thấy rõ hùng châu danh thắng.

Mới biết địa linh nhân kiệt, nảy sinh anh tuấn khác thường.

Nam cung ứng tuyển; nhạn tháp đề danh

Xuân thí khôi khoa, vân trình thẳng bước

Hoặc bà con một họ, tiến sĩ phó bảng ghi tên

Hoặc dòng dõi một nhà, khoa trước khoa sau đều đỗ

Khoa trường đã thịnh,

Hoạn lộ càng hanh”.

Có thể thấy rằng, bài phú đã thể hiện tri thức uyên thâm, tài quan sát tinh tế và bao trùm lên tất cả là tình cảm thắm thiết của Trần Đình Phong đối với vùng đất ông gọi là “địa linh nhân kiệt”. Quảng Nam được ông miêu tả là một tỉnh rộng lớn, người đông, nơi đây có nhiều danh lam, thắng cảnh, sông nước hữu tình. Đặc biệt, Trần Đình Phong còn ngợi khen xứ Quảng là vùng đất hiếu học, có nhiều người học giỏi, đỗ đạt cao: “khoa trường đã thịnh, hoạn lộ càng hanh”. Ngoài yếu tố văn, thơ, “Quảng Nam tỉnh phú” còn được xem là nguồn tư liệu lịch sử có giá trị tham khảo khá cao.

Với tư cách là Đốc học Quảng Nam, Trần Đình Phong trực tiếp quản lý, chỉnh đốn lại trường học tại Thanh Chiêm, sắp xếp đội ngũ thầy giáo, chú ý chọn những người thầy có tài đức để giảng dạy cho sĩ tử. Bên cạnh đó, ông còn đi nhiều nơi, tuyển chọn các học sinh xuất sắc cho vào học trường tỉnh. Đặc biệt, trường hợp của Trần Quý Cáp (lúc nhỏ tên là Trần Nghị).

Trần Nghị là một người tư chất thông minh, học giỏi. Vì gia đình nghèo khó nên không có sách vở để học. Nhờ ở gần nhà Phụ đạo Nguyễn Thành Ý, Trần Nghị lại chơi rất thân với con của ông nên thường lui tới đây để mượn sách về học. Đến năm 20 tuổi, Trần Nghị đã nổi tiếng giỏi văn chương, được bạn bè đồng môn kính nể. Năm 1895, Đốc học Trần Đình Phong nghe tiếng liền đến khảo sát và tuyển ông vào trường Thanh Chiêm, cấp lương ăn học và cho phép đổi tên thành Trần Quý Cáp. Năm 1904, ông được đặc cách cho thi Hội rồi thi Đình, tại khoa thi năm Giáp Thìn, ông đỗ Tiến sĩ, cùng khoa với Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Văn Thụy.

Ngoài trông coi việc học của tỉnh, quan Đốc học còn mở các lớp giảng tập, giảng giải về những điều cao siêu trong kinh sách mà những môn sinh xuất sắc nêu ra. Vào các ngày mồng 3, mồng 9, 17, 25 mỗi tháng, quan Đốc học thường ra đề bài để học sinh mang về nhà làm, đến hạn nộp lại (gọi là văn kỳ) hoặc làm ngay tại trường với hạn thời gian trong vòng một ngày (gọi là văn nhật khắc). Sau khi tổng hợp đủ số lượng và chấm bài, quan Đốc học tập trung sĩ tử lại để nhận xét, chọn ra những áng văn hay để bình giảng, khích lệ tinh thần cố gắng học hành của các nho sinh.

Những năm tháng làm Đốc học tại Quảng Nam, bằng chính sự tâm huyết, hết lòng vì giáo dục, đào tạo người tài mà Trần Đình Phong luôn cố gắng vun trồng, bồi đắp, đã giúp cho nơi đây sánh ngang với những vùng đất học có truyền thống lâu đời trên cả nước. Điều đó đã được thể hiện khi trong thời gian này, một loạt sĩ tử được ông nuôi chí, dạy dỗ đã đỗ đạt rất cao, nổi bật là: Nguyễn Đình Hiến, Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng(9)

Tại khoa thi Hương năm Canh Tý (1900) Thành Thái 12, ở trường thi Thừa Thiên, sĩ tử Quảng Nam đỗ cử nhân chiếm tỷ lệ cao nhất so với các tỉnh (15/32 vị) và từ thủ khoa đến vị trí thứ 9 đều là học trò xứ Quảng: Trong đó có Huỳnh Thúc Kháng đỗ Giải Nguyên, Nguyễn Đình Hiến đỗ Á Nguyên, ngoài ra còn có Phan Châu Trinh, Lê Bá Trình cùng đỗ ở các vị trí tiếp theo. Một năm sau, tại khoa thi Đình năm Tân Sửu 1901, Thành Thái 13, Quảng Nam có 4 người đỗ Phó bảng là Nguyễn Đình Hiến, Võ Vỹ, Nguyễn Mậu Hán, Phan Châu Trinh. Bốn vị này được người đời tặng cho danh hiệu “Quảng Nam tứ kiệt”.

Ba năm sau, khoa thi Giáp Thìn (1904), sĩ tử Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng cùng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân. Ngoài ra, Huỳnh Thúc Kháng còn được người đời gọi là ông Nghè Song nguyên bởi ông từng đỗ Giải Nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương năm 1900) và đỗ Hội Nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hội) khoa Giáp Thìn (1904).

Bên cạnh đó, nhiều sĩ tử không chỉ đỗ ở hàng trung khoa (Cử nhân) mà còn rất nhiều người đỗ ở hàng tiểu khoa (Tú tài). Những thành quả đó không chỉ tự nhiên có được mà phải trải qua một quá trình lâu dài tự thân học tập của các sĩ tử. Ngoài ra, chính những người thầy mà ở đây là Đốc học Trần Đình Phong đã có công tìm kiếm, tạo điều kiện, hết lòng chăm lo dạy dỗ để những tài năng đó được phát triển một cách tốt nhất.

Trần Đình Phong là một người thầy đức độ, yêu nước. Bên cạnh thời gian dạy học, truyền bá tri thức cho môn sinh, ông còn truyền đạt cho môn đồ của mình tấm lòng kiên trung, tinh thần xả thân cứu nước. Các sĩ tử như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh,… chính là những học trò xuất sắc nhất của ông.

Phan Châu Trinh là lãnh tụ phong trào Duy Tân, với chủ trương khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh được xem là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ thời đó. Phong trào đã có nhiều hoạt động sôi nổi đồng bộ như mở trường tân học, tổ chức diễn thuyết, lập hội buôn, nông hội… được quần chúng nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng và đấu tranh đã làm cho thực dân Pháp vô cùng lo sợ. Đỉnh điểm của phong trào Duy Tân vào năm 1908, nhân dân biểu tình xin sưu, chống thuế, nổi lên ở Quảng Nam sau đó lan nhanh ra các tỉnh miền Trung, thực dân Pháp biết được, ra tay khủng bố đẫm máu rồi nhanh chóng dập tắt phong trào, Phan Châu Trinh bị bắt đầy ra giam giữ ở Côn Đảo. Thời gian sau, ông được thả và tiếp tục con đường hoạt động yêu nước cho đến cuối đời.

Huỳnh Thúc Kháng là một chí sĩ yêu nước kiệt xuất được nhân dân gọi với cái tên thân thương là “cụ Huỳnh”, ông cùng Trần Quý Cáp, Phan Bội Châu là một trong những lãnh tụ của phong trào Duy Tân. Năm 1908, ông bị bắt và đi đầy ở Côn Đảo, 13 năm sau mới được trả tự do. Năm 1926, ông được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung kỳ. Sau đó, vì chống lại Khâm sứ Pháp nên ông từ chức. Năm 1927, ông sáng lập tờ báo Tiếng Dân, và hoạt động đến năm 1943 thì bị đình bảng. Với tài năng, lòng yêu nước cùng với uy tín của mình, sau Cách mạng tháng Tám, Huỳnh Thúc Kháng được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia chính phủ Liên hiệp và từng giữ chức Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dù ở cương vị nào, ông cũng cần mẫn làm việc chăm chỉ, hết lòng phụng sự cho tổ quốc, cho nhân dân.

Đốc học Trần Đình Phong không chỉ để lại cho đời những học trò tài đức vẹn toàn, mà còn đào tạo những người con nối chí cha làm rạng danh gia phong cốt cách. Ông có mười bốn người con (5 gái, 9 trai), đều là những người thông minh, học hành tử tế. Trong đó, con đầu là Trần Đình Doãn đỗ Cử nhân khoa Canh Tý (1900). Thứ hai và thứ ba là hai tú tài Trần Đình Duyên và Trần Đình Quản. Người con thứ tư là Trần Đình Diệm từng trúng cử Đại biểu Trung kỳ năm 1926. Trần Đình Phiên là người con thứ năm từng làm phụ tá cụ Huỳnh Thúc Kháng, quản lý Báo Tiếng Dân trong suốt 16 năm. Ông Phiên cũng là một trong hai giáo viên chính ở Trường Dục Thanh, được xây dựng ở Phan Thiết năm 1907 (cùng năm xây dựng với trường Đông Kinh Nghĩa Thục). Thứ sáu là Trần Đình Quán, được xem là nghệ sĩ nhiếp ảnh đầu tiên ở Nghệ An.

Trần Đình Nam là người con thứ tám, sinh năm Ất Mùi (1896) tại tỉnh Quảng Nam. Từng là bạn học của Nguyễn Tất Thành thời còn học ở Huế. Ông học và tốt nghiệp Trường y sĩ Đông Dương ở Hà Nội. Sau đó, ông về làm việc ở bệnh viện Phan Thiết, Huế và tham phong trào yêu nước ở các tỉnh miền Trung. Ông từng giữ chức Thị trưởng Thành phố Đà Nẵng trong thời gian ngắn những năm 40. Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 09/3/1996, Trần Đình Nam được mời giữ chức Bộ trưởng Nội vụ của Chính phủ Trần Trọng Kim cho đến tháng 8 năm 1945. Thời kháng chiến chống Pháp, ông tham gia lực lượng kháng chiến và làm bác sĩ tại Bệnh viện dân y tỉnh Quảng Nam. Sau hiệp định Genève 1954, ông ở lại miền Nam và sống tại Đà Nẵng. Năm 1967, ông từ chối tham gia liên minh với ông Trần Văn Hương ứng cử vào chức vụ Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Ngoài công việc của một bác sĩ, Trần Đình Nam còn viết nhiều sách y học, sách khoa học tự nhiên và xã hội. Ông qua đời năm 1974, thọ 78 tuổi và được chôn cất tại Đà Nẵng(10).

Sự tài giỏi, lòng nhiệt huyết và tinh thần yêu nước từ những người con là thành quả của sự dạy dỗ đúng cách của Tiến sĩ Trần Đình Phong. Không chỉ đơn giản dạy dỗ về mặt chữ nghĩa, văn chương, ông còn thổi hồn vào đó tinh thần yêu nước, thương dân. Chính vì môi trường từ nhỏ được nuôi dưỡng bởi bàn tay đức độ từ cha mình mà những người con như Trần Đình Nam, Trần Đình Phiên đã hình thành cho mình cốt cách sống riêng,… nhưng đọng lại và hội tụ đầy đủ nhất vẫn là tình yêu quê hương, đất nước, dân tộc.

Thay lời kết

Sinh ra và lớn lên ở Nghệ An, một vùng đất học nổi tiếng của cả nước phần nào đã giúp Trần Đình Phong hình thành nên trong mình cốt cách của một nhân sĩ tài giỏi và đức độ. Bằng sự mẫn cán và thông minh, Trần Đình Phong liên tục kinh qua các chức vụ khác nhau từ thấp đến cao, và dù cương vị nào ông cũng hoàn thành tốt các công việc được giao phó, được triều đình tin tưởng, nhân dân kính trọng. Đặc biệt, trên cương vị là Đốc học Quảng Nam, Trần Đình Phong đã đóng góp rất nhiều công sức cho nền giáo dục, khoa bảng tại đây. Ông là người tuyển chọn từ thầy dạy học, hay đến nhiều nơi để chọn những môn sinh ưu tú. Ngoài ra, ông còn trực tiếp dạy dỗ, truyền thụ cho những môn đồ của mình những tinh hoa trí thức, phả vào đó những bài giảng khơi gợi tinh thần yêu nước, yêu dân tộc. Để rồi, rất nhiều học trò của ông sau này là những chí sĩ yêu nước, nhà cải cách kiệt xuất như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,… Khi nhắc về người thầy của mình, các học trò ưu tú được Trần Đình Phong dạy dỗ thường kính cẩn gọi ông là “ân sư”. Với cương vị là một người cha, ông luôn là tấm gương lớn để con cái noi theo và học tập, nhờ những lời dạy bảo từ cha mình, mà các con của ông sau này đều thành tài, đóng góp tinh thần, trí lực phục vụ đất nước.

Nghệ An là quê gốc của Tiến sĩ Trần Đình Phong và các con. Tuy nhiên, vùng đất Quảng Nam được xem là quê hương thứ hai của ông và gia đình, nơi mà sự nghiệp, cống hiến của ông đều gắn liền với vùng đất này. Chính tại nơi đây, ông đã đem hết tài năng, nhân cách của người trí thức xứ Nghệ góp phần khẳng định, nâng cao vị thế giáo dục, khoa bảng ở xứ Quảng. Những cống hiến lớn lao của ông là tiêu biểu cho mối quan hệ gắn bó truyền thống, lâu đời giữa người xứ Nghệ với người xứ Quảng trong quá trình lịch sử dân tộc.

 

Chú thích

  1. Khoa thi năm Mậu Tuất 1898, niên hiệu Thành Thái thứ X, triều đình Huế tuyển được 8 Tiến sĩ và 9 Phó bảng. Trong 17 vị này có 5 người quê ở Quảng Nam, gồm: Tiến sĩ Phạm Liệu, Tiến sĩ Phan Quang, Tiến sĩ Phạm Tuấn, Phó bảng Ngô Truân, Phó bảng Dương Hiển Tiến, đều là học trò của Tiến sĩ Trần Đình Phong. Chính sự đỗ đạt thành tài tại khoa thi này mà người đời tôn vinh là “ngũ phụng tề phi” nghĩa là “năm con phụng cùng bay”.
  2. Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân Quảng Nam tỉnh Quảng Nam, Thành ủy - Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, “Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 2010, Tr. 1614.
  3. Hoa Lê, “5 vùng đất học nổi danh của Nghệ An” tại https://baomoi.com/5-vung-dat-hoc-noi-danh-cua-nghe-an/c/23976598.epi, ngày truy cập 19/9/2018.
  4. Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân Quảng Nam tỉnh Quảng Nam, Thành ủy - Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, “Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 2010, Tr. 1615.
  5. Châu Yếu Loan, “Đóng góp của một gia đình xứ Nghệ vào Văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng”, tại http://www.vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/dong-gop-cua-mot-gia-dinh-xu-nghe-vao-van-hoa-quang-nam-da-nang, ngày truy cập 19/9/2018.
  6. Tỉnh ủy - Ủy ban nhân dân Quảng Nam tỉnh Quảng Nam, Thành ủy - Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, “Địa chí Quảng Nam - Đà Nẵng”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 2010, Tr. 1615.7.
  7. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam; Sở Văn hóa, Thể thao Thành phố Đà Nẵng, “Danh nhân Quảng Nam - Đà Nẵng thời trung - cận đại”, tháng 10 năm 2017, Tr. 111.
  8. Nguyễn Q. Thắng, “Quảng Nam Đất nước và nhân vật, tập 1, 2, Nxb Văn hóa Thông tin, Tr. 343.
  9. Nguyễn Q. Thắng, “Quảng Nam Đất nước và nhân vật”, tập 1, 2, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 342.
  10. Châu Yếu Loan, “Đóng góp của một gia đình xứ Nghệ vào Văn hóa Quảng Nam - Đà Nẵng”, tại http://www.vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/dong-gop-cua-mot-gia-dinh-xu-nghe-vao-van-hoa-quang-nam-da-nang, ngày truy cập, 25/9/2018.
Đất và người xứ Nghệ khác:
Yên Thành vùng đất cổ (9/11/2018)
Trần Đình Quán - Người yêu nước và nghệ sỹ nhiếp ảnh đầu tiên của xứ Nghệ (9/11/2018)
Tiến sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục, khoa bảng ở Quảng Nam (9/11/2018)
Thẳm Nàng Màn một danh thắng hấp dẫn cho du khách về với Con Cuông (10/10/2018)
Thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông (19/9/2018)
Giá trị lịch sử di sản Hán Nôm họ Nguyễn Đăng, xã Hưng Yên Bắc, huyện Hưng Nguyên (12/9/2018)
Trung đoàn 4, Sư đoàn 337 trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979 (12/9/2018)
Tục cúng rẫy của người Khơ Mú (11/9/2018)
Tiến sĩ Đinh Văn Chất trong phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (6/9/2018)
Hang động đầy thạch nhũ lấp lánh ánh vàng ở miền Tây Nghệ An (15/8/2018)
Trai làng Nha Môn (8/8/2018)
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,576 | Tất cả: 1,508,636
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp