KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa)
Tin đăng ngày: 9/10/2018 - Xem: 17
 

Nguyễn Quang Hồng - Nguyễn Thị Kim Sang - Trần Quốc Bảo

Upload

Cổng thành Nghệ An năm 1929    Ảnh: Trần Đình Quán

 1. Xin được bắt đầu bởi sự kiện Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xuống chiếu gửi La sơn phu tử Nguyễn Thiếp vào ngày 03 tháng 9 năm Thái Đức thứ 11 tức ngày 01 tháng 10 năm 1788, nhờ ông xuống núi đến vùng đất Vĩnh Yên, Yên Trường, thuộc tổng Ngô Trường, huyện Chân Lộc, xem rõ cồn vụng để chọn đất đóng đô. Trong chiếu có viết: “… Nay kinh đô Phú Xuân hình thế cách trở. Ở xa trị Bắc Hà, sự thế rất khó khăn. Theo đình thần nghị rằng: Chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ đường vừa cân, vừa có thể khống chế được trong Nam ngoài Bắc, và sẽ làm cho người tứ phương đến kêu kiện, tiện việc đi về.

Nhớ lại buổi hồi loan kỳ trước, lúc qua Hoành Sơn quả cung đã từng mở xem địa đồ, thấy ở huyện Chân Lộc, xã Yên Trường, hình thế rộng rãi, khí tượng tươi sáng. Có thể chọn để xây kinh đô mới. Thực là chỗ đất đẹp để đóng đô vậy...”(1).

Vùng đất được Bắc Bình vương Nguyễn Huệ lựa chọn để xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành hay còn gọi là Trung kinh Phượng Hoàng thành hay theo cách gọi dân gian là thành Phượng Hoàng thuộc địa giới hành chính xã Yên Trường, huyện Chân Lộc, ở khu vực núi Dũng Quyết còn có tên gọi khác là núi Phượng Hoàng (vì các cụ túc Nho xưa cho rằng núi Dũng Quyết có hình thế trông giống con chim Phượng Hoàng đang vỗ cánh vươn ra biển Đông) và núi Kỳ Lân, nay thuộc khối 3, phường Trung Đô, thành phố Vinh(2).

Công cuộc xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành lẽ ra được thực hiện một cách triệt để, bởi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đã nói rõ trong chiếu: “Đã sức cho quan trấn sửa soạn gỗ, ngói, khí cụ, hẹn ngày làm việc,…” nhưng việc Hoàng thái hậu nhà Lê cùng một số gian thần, nịnh thần trong triều đem vàng bạc, châu báu sang cầu cứu vua Càn Long nhà Thanh, mở đường cho Tôn Sĩ Nghị cùng 29 vạn quân Thanh ồ ạt tràn vào nước ta vào cuối năm 1788, đặt toàn thể quốc gia dân tộc vào một thử thách hết sức lớn lao.Vì lợi ích của dân tộc, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Quang Trung rồi cùng bách tính muôn dân nhanh chóng quét sạch 29 vạn quân Thanh và bè lũ vua tôi Lê Chiêu Thống ra khỏi bờ cõi trong cuộc tiến công chiến lược đầu xuân Kỷ Dậu 1789.

Đất nước thanh bình, trấn thủ Nghệ An, thừa mệnh Hoàng đế Quang Trung huy động nhân tài, vật lực xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành. Công cuộc xây dựng thành Phượng Hoàng đang tiến hành một cách gấp rút, thì Hoàng đế Quang Trung đột ngột từ trần vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý 1792, do đó, đành bỏ dở. Người kế nhiệm ngai vàng là Hoàng đế Cảnh Thịnh đã không thực hiện lời căn dặn của vua Quang Trung trong lúc lâm chung là gấp rút tổ chức tang lễ, rồi chuyển dời kinh đô từ Phú Xuân về Trung Đô Phượng Hoàng thành để dựa vào nhân tài, vật lực của cộng đồng cư dân xứ Nghệ mà giữ nghiệp nhà Tây Sơn. Vì nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, sau khi Hoàng đế Quang Trung từ trần, cơ nghiệp nhà Tây Sơn chao đảo, lung lay đến tận gốc và đi đến sụp đổ hoàn toàn vào năm 1801 trước cuộc tiến công của Nguyễn Ánh.

Sự kiện Bắc Bình vương Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung chọn vùng đất Vĩnh Yên, Yên Trường để xây dựng kinh đô và cho đến những ngày cuối cùng vẫn đau đáu việc dời đô về Nghệ An, chính là sự khẳng định của một nhà quân sự, chính trị lỗi lạc về vị thế địa chính trị - quân sự hết sức quan trọng của vùng đất Nghệ An - Hà Tĩnh nói chung, Vinh nói riêng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Tiếc rằng, Hoàng đế Cảnh Thịnh và cả bộ máy quan lại trong triều đình Phú Xuân lại quá mải mê với cuộc chiến tranh giành quyền lực, chia bè kết cánh, đẩy cơ nghiệp nhà Tây Sơn đến bờ vực của sự sụp đổ. Vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường chưa chính thức trở thành kinh đô, song vị thế chiến lược của nó được chính người anh hùng áo vải cờ đào Nguyễn Huệ lựa chọn. Nhưng cần phải khẳng định một điều việc Bắc Bình vương Nguyễn Huệ - Hoàng đế Quang Trung chọn và quyết tâm xây dựng Trung Đô Phượng Hoàng thành không đồng nhất với việc vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường đã chính thức trở thành trấn sở của trấn Nghệ An vào cuối thế kỷ XVIII. Bởi vì, cho đến năm 1803, trấn sở Nghệ An vẫn ở Lam Thành - Phù Thạch(3). PGS. Hoàng Văn Lân trong bài: “Vấn đề xác định năm ra đời của thành phố Vinh hiện nay” đã hoàn toàn chính xác khi khẳng định: “… Đó là việc tìm địa điểm và xây dựng “Trung Đô” của một vị anh hùng chứ không phải là việc xây dựng lỵ sở trấn Nghệ An lúc bấy giờ do Nguyễn Thận làm trấn thủ. Lỵ sở của trấn Nghệ An là một việc, một sự kiện. Còn “Đô” của Bắc Bình vương rồi Quang Trung hoàng đế lại là một việc khác. Coi việc đặt kinh đô cũng là việc đặt lỵ sở cho một trấn, là không đúng với luật pháp thời quân chủ tập quyền của nước ta vốn rất nghiêm ngặt về phương diện hành chính,… Còn cách đánh đồng hai sự kiện đó lại là không phù hợp với thực tế lịch sử nước ta”(4).

Nhưng ngay trong chuyến Bắc tuần lần thứ nhất để nhận sắc phong của nhà Thanh và thăm quê cha đất tổ ở làng Gia Miêu, Đông Sơn, Thanh Hóa vào năm 1803, vị vua đầu triều Nguyễn là Gia Long đã quyết định cho chuyển dời lỵ sở Nghệ An từ Lam Thành - Phù Thạch về Vĩnh Yên và Yên Trường. Tháng 5 năm Gia Long thứ 3 (tháng 5 năm 1804), công cuộc chuyển dời trấn sở Nghệ An từ Lam Thành - Phù Thạch về Vĩnh Yên và Yên Trường chính thức được thực thi. Vua Gia Long cho phép quan trấn Nghệ An huy động binh lính, dân đinh ở Nghệ An, Hà Tĩnh tháo dỡ nhà cửa, dinh thự, chuyển nguyên vật liệu ở thành Phượng Hoàng về xây dựng trấn thành Nghệ An. Thành Phượng Hoàng Trung Đô không còn nữa. Nhưng, từ năm 1804 đến năm 1884, trải qua 80 năm, Vinh luôn giữ vai trò là trấn thành của trấn Nghệ An (1804 -1831), tỉnh thành của tỉnh Nghệ An (1832 -1884), như bao trấn thành, tỉnh thành khác trong vương quốc Đại Nam(5).

Không chỉ là trung tâm chính trị, quân sự mà ngay ở phía Đông Nam lỵ sở Nghệ An, ngay từ đầu thế kỷ XIX, chợ Vĩnh từ chức năng một chợ tổng như bao chợ tổng khác ở lưu vực sông Lam đã chính thức trở thành chợ Trấn, đóng vai trò là trung tâm buôn bán, trao đổi đủ loại hàng hóa sầm uất bậc nhất so với nhiều trấn, tỉnh khác ở Bắc và Nam Trung bộ thời bấy giờ. Sự hưng thịnh của chợ Vĩnh đã đưa yếu tố thị phát triển thêm một bước, cho dù sự tồn tại bền vững của chính sách trọng nông và nền kinh tế tiểu nông mang tính tự cung tự cấp là nguyên nhân chính yếu khiến chợ Vĩnh và bao chợ phủ, chợ huyện, chợ tổng, chợ làng xã ở lưu vực sông Lam không đủ khả năng làm thay đổi diện mạo kinh tế tiểu nông lỗi thời và lạc hậu trong toàn trấn Nghệ An cũng như ở vùng đất Chân Lộc(6).

Bên cạnh đó, sự hiện diện của trường thi hương Nghệ An ngay từ khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1807 dưới thời vua Gia Long cũng đã chính thức biến Vinh trở thành một trong bảy trung tâm đào tạo, tuyển dụng hiền tài theo phương thức truyền thống trên toàn lãnh thổ vương quốc Đại Nam. Và, trong bước đường tồn tại, phát triển cho đến lúc kết thúc sứ mệnh lịch sử vào năm 1918, trường thi hương Nghệ An tổ chức 42/47 khoa thi hương kể cả ân khoa và chính khoa, góp phần không nhỏ vào việc duy trì nền giáo dục khoa cử Nho học cũng như tuyển chọn hiền tài giúp vua trị nước yên dân, cho dù, tình thế lịch sử đổi thay và đội ngũ trí thức Nho học ở nước ta đã không thể giúp vua giữ được độc lập dân tộc trước cuộc xâm lược của người Pháp(7). So với các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn, Thanh Chương, thì vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường rộng hơn là cả huyện Chân Lộc có số người thi cử đỗ đạt tại trường thi hương Nghệ An thời Nguyễn ít hơn. Nhưng cứ mỗi khi nhà Nguyễn tổ chức kỳ thi, hàng ngàn học trò lều chõng, bút nghiên khắp các phủ, huyện từ đồng bằng ven biển đến miền núi trung du kéo về Vinh, ăn, ở, dự thí cho đến ngày ra bảng, tạo nên một bức tranh hết sức sống động trong đời sống xã hội ở trấn thành, tỉnh thành Nghệ An.

Với tư cách là trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa của trấn, tỉnh Nghệ An, suốt từ năm 1804 đến năm 1884, trên vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường có thêm nhiều đình, đền, chùa, nhà thờ được xây dựng hoặc trùng tu, sửa chữa, phục dựng như: đền Hồng Sơn do thương nhân Hoa kiều ở chợ Vinh xây dựng để thờ ba anh em Lưu - Quan - Trương, đền thờ Đức Thánh Trần, đền thờ thành hoàng, đền thờ thần Nông, đền thờ Đức Thánh Mẫu,… chùa Cần Linh, chùa Diệc (Cổ Diệc tự)(8),… Bên cạnh đó còn có nhà thờ Cầu Rầm, nhà Văn Thánh Vinh,v.v… Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của các tầng lớp, giai cấp ở trấn thành, tỉnh thành Nghệ An có nhiều nét tương đồng với đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng dân cư ở các trấn, tỉnh thành khác trên lãnh thổ vương quốc Đại Nam.

2. Ngày 20 tháng 7 năm 1885, Chaumond (Sô Mông) cùng các sĩ quan và binh lính dưới quyền đổ bộ từ cảng Cửa Hội lên chiếm thành Nghệ An. Thương biện tỉnh vụ Nghệ An là Võ Trọng Bình và đám quan lại dưới quyền, mở sẵn cổng thành, khăn áo chỉnh tề, xếp hàng chào đón Chaumond và sĩ quan, binh lính Pháp vào thành Nghệ An. Sự kiện lịch sử này chính thức chấm dứt thời kỳ tồn tại của bộ máy quan lại do nhà Nguyễn đào tạo, tuyển dụng ra trấn thành, tỉnh thành Nghệ An để thay mặt nhà vua đưa vương pháp, vương quyền đến với mọi thần dân làng xã, bản mường trong khoảng không gian địa giới hành chính: Đông, Tây, Nam, Bắc đều rộng 500 dặm(9). Bởi vì, từ đây, Khâm sứ Trung kỳ và Toàn quyền Đông Dương mới là những người quyết định về sự có mặt của quan công sứ cũng như Tổng đốc Nghệ An và cả bộ máy thống trị hỗn hợp Pháp - Nam trên vùng đất rộng lớn này. Một hình thái kinh tế, chính trị - xã hội mới đã hiện hữu trên vùng đất Vinh nói riêng và cả lưu vực sông Lam cũng như toàn xứ Trung kỳ và cả vương quốc Đại Nam cũ.

Theo chân lực lượng viễn chinh, các tập đoàn tư bản Pháp đã nhìn thấy những tiềm năng hết sức lớn lao từ nguồn tài nguyên vị thế mà lỵ sở Vinh có thể mang lại cho công cuộc thống trị lâu dài toàn xứ Đông Dương thuộc Pháp. Điều này giải thích vì sao người Pháp nhanh chóng tìm cách loại bỏ Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Hữu Thu ra khỏi cảng Bến Thủy và độc chiếm luôn cảng sông này ngay trước khi kết thúc chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 (1919 -1929) bởi tác động của khủng hoảng kinh tế (1929 -1933)(10). Trên lĩnh vực giao thông đường bộ, ngoài việc gấp rút hoàn thành tuyến đường xuyên Việt nối Vinh với các tỉnh phía Bắc cũng như các tỉnh phía Nam, người Pháp còn đầu tư xây dựng các tuyến đường thâm nhập số 7 và số 8 nối Vinh - Bến Thủy với vùng trung Lào. Bên cạnh đó tuyến đường bộ nối Vinh - Bến Thủy - Trường Thi với cảng Cửa Hội, Vinh - Hưng Nguyên - Nam Đàn - Thanh Chương, Vinh - Nghi Lộc - Diễn Châu - Đô Lương,… cũng gấp rút được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng. Tuyến đường sắt nối Hà Nội - Vinh với tổng chiều dài trên 320km được hoàn thành và đưa vào khai thác vào năm 1905 cùng với Đề pô xe lửa Vinh, Nhà máy Sửa chữa đầu máy toa xe lửa Trường Thi được đầu tư xây dựng trên diện tích 10.000m2 thuộc địa phận làng Yên Dũng Thượng, thu hút hơn 1.000 công nhân Bắc kỳ vào làm việc từ những năm đầu thế kỷ XX. Trong khi đó, Công ty Rừng núi và Diêm Đông Dương sớm đầu tư xây dựng Nhà máy Cưa xẻ gỗ và sản xuất Diêm Bến Thủy có sản lượng lớn nhất Đông Dương và sử dụng khoảng 400 công nhân với đại bộ phận là công nhân nữ. Năm 1922, Công ty Rừng núi và Diêm Đông Dương chính thức đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Bến Thủy. Đây là Nhà máy nhiệt điện lớn nhất Trung kỳ và Lào thời thuộc Pháp. Một điểm nhấn quan trọng khác làm thay đổi bức tranh đô thị Vinh ngay từ đầu thế kỷ XX, chính là việc vua Thành Thái xuống Đạo dụ thành lập Trung tâm đô thị Vinh (Centre ubaine) vào ngày 12 tháng 7 năm 1899 cùng 05 đô thị khác ở Trung kỳ là Thanh Hóa, Huế, Fai fo (Hội An), Quy Nhơn và Phan Thiết(11). Tiếp đó là việc vua Duy Tân ra Đạo dụ thành lập Trung tâm đô thị Bến Thủy vào ngày 11 tháng 3 năm 1914. Ngày 28 tháng 7 năm 1917, vua Khải Định ban hành Đạo dụ thành lập Trung tâm đô thị Trường Thi (Le Centre urbaine de Trương Thi).

Năm 1918, kỳ thi hương cuối cùng được tổ chức tại trường thi hương Nghệ An. Chỉ hai năm sau đó, Toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập Trường Quốc học Vinh (Ecolle de Vinh) dành cho học trò các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình vào học. Năm 1927, Trường Quốc học Quy Nhơn được thành lập. Như vậy, trong thời kỳ thuộc Pháp trên lãnh thổ 14 tỉnh của xứ Trung kỳ, sau kinh đô Huế, Vinh và Quy Nhơn chính thức trở thành những trung tâm đào tạo đội ngũ tri thức Tây học Pháp - Việt quan trọng nhất.

 Công cuộc đô thị hóa diễn ra quyết liệt trên nhiều phương diện, nhanh chóng biến các đô thị: Vinh, Bến Thủy, Trường Thi thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, giao thông vận tải quy mô lớn tập trung của Trung kỳ. Đây chính là một trong những nguyên nhân để đến ngày 10 tháng 12 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương Mon Guillo (Mông Ghi Nhô), ra sắc lệnh thành lập thành phố Vinh - Bến Thủy (commune de Vinh - Benthuy) với diện tích 20 km2 cùng 2 vạn dân nội thành trên cơ sở sáp nhập ba Trung tâm đô thị Vinh - Bến Thủy - Trường Thi. Đến năm 1930, toàn quyền Đông Dương Paxkiê (Passiquier) ra nghị định chia thành phố Vinh - Bến Thủy thành 10 khu phố đặt tên từ phố Đệ Nhất đến phố Đệ Thập.

 Bước đường đô thị hóa diễn ra trên địa bàn thành phố Vinh - Bến Thủy vừa mang đầy đủ những đặc điểm chung của các đô thị ở nước ta thời thuộc Pháp nhưng lại mang những nét riêng đặc thù do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chúng tôi xin phép giải trình trong một bài viết khác. Có một thực tế hết sức đặc biệt là từ khi Pháp chiếm thành Nghệ An cho đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 bùng nổ và thắng lợi, các thế hệ cha anh trong không gian địa đô thị Vinh - Bến Thủy luôn là lực lượng tiên phong trong việc tiếp nhận những giá trị văn hóa - văn minh châu Âu, nhất là văn minh Pháp để làm phong phú, đa dạng hơn cho nền văn hóa - văn minh bản địa (ngôn ngữ nói, viết, cách ăn mặc, kiến trúc nhà cửa, khoa học kỹ thuật,…) và cũng chính họ luôn đứng đầu dậy trước trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

3. Với tinh thần và ý chí “đem sức ta mà giải phóng cho ta” dưới sự lãnh đạo của Đảng và Việt Minh, hàng vạn quần chúng nhân dân yêu nước trên địa bàn thành phố Vinh - Bến Thủy đã nhất loạt vùng lên, làm tan rã, sụp đổ hoàn toàn mọi gông xiềng nô lệ của Pháp - Nhật, phong kiến tay sai, mở đường cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra và thắng lợi trên phạm vi toàn tỉnh Nghệ An vào cuối tháng Tám năm 1945. Một trang sử mới chính thức bắt đầu với Đảng bộ và nhân dân thành phố Vinh: Trang sử xây dựng, bảo vệ và phát triển bộ máy chính quyền cách mạng của dân, do dân và vì dân và phấn đấu để mọi người, mọi nhà đều được hưởng tự do, độc lập, ai ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai ai cũng được học hành.

Nghiêm chỉnh thực hiện một cách triệt để Chỉ thị: “Tiêu thổ để kháng chiến” từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 4 năm 1947, với sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân nội ngoại thành, 1.335 ngôi nhà, trong đó có 301 nhà cao tầng, 300 toa xe lửa và 12 đầu máy, đường giao thông nội đô, cầu cống,… đã bị phá bỏ, tháo dỡ hoặc đánh sập. Hầu hết máy móc ở Nhà máy Sửa chữa đầu máy toa xe lửa Trường Thi, nhà máy điện, Nhà máy Diêm Bến Thủy, Nhà máy In Nguyễn Đức Tư,… được tháo dỡ, chuyển về các huyện trung du, miền núi trong tỉnh(12). Một số đầu máy, toa xe còn lại của Nhà máy Sửa chữa đầu máy toa xe lửa Trường Thi được anh em công nhân đưa lên cầu Yên Xuân, dùng mìn đánh sập cầu tạo thành hàng rào chắn ngang sông Lam để ngăn tàu chiến Pháp một khi chúng tiến ngược theo dòng sông Lam,… Toàn bộ dân cư trên địa bàn thị xã Vinh cũng tản cư về các huyện trung du, miền núi. Trên địa bàn thị xã chỉ còn lại lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

 Quá trình đô thị hóa ở thị xã Vinh đã không diễn ra theo một đường thẳng mà chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc chiến tranh xâm lược do Pháp gây nên. Toàn bộ cơ sở vật chất trên địa bàn thành phố Vinh - Bến Thủy do Pháp đầu tư xây dựng không còn nữa. Cuối năm 1953, đầu năm 1954, mặc dù chiến tranh chưa kết thúc, nhưng một bộ phận dân cư thị xã Vinh đi tản cư ở các huyện trung du, miền núi đã trở lại địa bàn thành phố, dựng tạm nhà cửa bắt đầu công cuộc tái thiết lại thành phố Vinh. Nhờ những nỗ lực tuyệt vời của Đảng bộ, nhân dân thị xã Vinh cũng như sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, từ cuối năm 1954 đến năm 1962, bức tranh đô thị Vinh đã có nhiều thay đổi cả về không gian đô thị, kiến trúc đô thị cũng như kinh tế, văn hóa xã hội,… trên địa bàn đô thị. Ngày 10 tháng 10 năm 1963, Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Quyết định số 148/CP công nhận thị xã Vinh trở thành thành phố Vinh. Mốc lịch sử này đánh dấu cả một chặng đường phấn đấu, xây dựng thành phố đầy khó khăn, thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào của cán bộ, nhân dân thành phố Vinh nói riêng và Đảng bộ, nhân dân tỉnh Nghệ An nói chung.

Nhưng dòng chảy lịch sử - văn hóa thành phố Vinh lại một lần nữa thay đổi bởi cuộc chiến tranh tàn khốc do không quân và hải quân Mỹ gây nên đối với miền Bắc Việt Nam từ ngày 5 tháng 8 năm 1964. Do vị thế chiến lược của thành phố Vinh mà ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến, Vinh đã trở thành một trong những mục tiêu đánh phá mang tính chất hủy diệt của hải quân và không quân Mỹ. Toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật trên địa bàn thành phố bị bom đạn Mỹ san phẳng. Trong khói lửa chiến tranh khốc liệt ấy, chỉ trong vòng 7 năm (1965 - 1972), nhân dân thành phố Vinh đã phải hai lần tản cư về các huyện trung du, miền núi trong tỉnh. Như vậy, nếu tính từ năm 1946 đến năm 1972, trải qua 26 năm, nhân dân Vinh đã ba lần tản cư và cũng từng ấy lần toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kiến trúc đô thị, kinh tế đô thị,… bị phá hủy gần như hoàn toàn chỉ còn lại những đống gạch đổ nát, hoang tàn. Đây có thể là một trong những nét độc đáo, riêng có trên bước đường đô thị hóa của thành phố Vinh so với bất cứ một thành phố, đô thị nào khác ở nước ta từ thế kỷ XIX cho đến nửa sau của thế kỷ XX.

4. Ngày Quốc tế lao động 1/5/1974, trở thành một mốc son lịch sử trên bước đường tái thiết lại thành phố Vinh sau đổ nát, hoang tàn của chiến tranh. Đồng chí Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng Đỗ Mười, thay mặt Đảng Nhà nước, cùng đồng chí Di-Tô-du-ê- rinh - Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa dân chủ Đức tại Việt Nam và đồng chí Nguyễn Sĩ Quế, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng lại thành phố Vinh trước sự chứng kiến của hàng vạn công nhân và nhân dân thành phố. Công cuộc xây dựng lại thành phố Vinh diễn ra trong bối cảnh quân dân cả nước dồn toàn bộ tinh thần lực lượng giải phóng hoàn toàn miền Nam. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, non sông thu về một mối, tạo tiền đề để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực hiện Nghị quyết số 245 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành trung ương Đảng ngày 20 tháng 9 năm 1975, công cuộc sáp nhập hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh được tiến hành nhanh chóng. Vinh chính thức trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một trong những tỉnh có diện tích tự nhiên rộng nhất cả nước và dân số đông nhất trong tổng số 49, 53 tỉnh, thành của cả nước lúc bấy giờ.

Sau 16 năm hợp nhất, đến năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh chia thành hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Vinh trở lại là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của tỉnh Nghệ An. Ngày 13 tháng 8 năm 1993, thành phố Vinh được công nhận là Đô thị loại II. Ngày 20 tháng 12 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 603/TTg, phê duyệt tổng thể xây dựng thành phố Vinh. Đây là một trong những mốc lịch sử quan trọng tạo tiền đề thúc đẩy quá trình phát triển nhanh, mạnh, toàn diện và bền vững trên tất cả các phương diện kinh tế, tài chính, văn hóa, xã hội,… của đô thị Vinh suốt thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho đến đầu thế kỷ XXI. Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg phê duyệt: “Đề án phát triển thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung bộ”. Ngày 05 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1210/TTg công nhận Vinh là Đô thị loại I. Đến nay, Vinh có 16 phường, 9 xã, với tổng diện tích tự nhiên là 10.497,58 ha(13).

 Có ý kiến cho rằng, xuyên suốt chặng đường hình thành, phát triển suốt hơn hai thế kỷ (1804 -2017), đô thị Vinh thời quân chủ, thành phố Vinh - Bến Thủy thời thuộc Pháp và thị xã Vinh - thành phố Vinh thời hiện đại in đậm dấu ấn của mọi thăng trầm, biến đổi của lịch sử dân tộc. Bước đường đô thị hóa vùng đất Vĩnh Yên và Yên Trường xưa, Vinh ngày nay vừa mang đầy đủ những yếu tố đặc trưng của đô thị Việt Nam nhưng cũng có không ít những đặc điểm riêng mang tính đặc thù. Có một thực tế lịch sử từng tồn tại hơn hai thế kỷ qua là: cho dù các hình thái kinh tế, chính trị - xã hội có thay đổi thì vị thế địa chính trị - quân sự, văn hóa của đô thị Vinh vẫn ít thay đổi. Nhưng điều mọi người mong đợi là làm thế nào và đến bao giờ thành phố Vinh sẽ cất cánh để trở thành một trong những thành phố thông minh, và là một trong những trung tâm tài chính, tiền tệ lớn nhất ở miền Trung cũng như của cả nước? Khi đó, dòng chảy lịch sử - văn hóa của thành phố Vinh sẽ có nhiều điểm mới so với quá khứ đã từng diễn ra trên vùng đất có nguồn tài nguyên vị thế chiến lược và cả nguồn tài nguyên vô giá là nguồn lực con người có đủ trình độ, trí tuệ, ý chí, nghị lực và khát vọng vươn cao, bay xa trong cuộc cách mạng 4.0.

 

Chú thích

  1. Chúng tôi trích theo Bản dịch Chiếu của Nguyễn Huệ gửi La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp năm Thái Đức thứ 11 ngày 03 tháng 9 năm 1788 tức ngày 01 tháng 10 năm 1788, trong sách: La Sơn phu tử do Hoàng Xuân Hãn biên soạn, nhà xuất bản Minh Tân phát hành, năm 1951, trang 292 -293.
  2. Thư viện Nghệ An - Câu lạc bộ Hán Nôm: Xứ Nghệ với Hoàng đế Quang Trung, Nhà xuất bản Nghệ An, 2008.
  3. Xem: Ngô gia văn phái: “Hoàng Lê Nhất thống chí”, Bùi Dương Lịch: “Nghệ An ký”. Quốc sử quán triều Nguyễn: “Đại Nam nhất thống chí, tập 2, phần Nghệ An tỉnh,…Trong cuộc Hội thảo chọn mốc lịch sử ra đời của thành phố Vinh năm 1998, Thành ủy, HĐND, UBND thành phố Vinh và một số nhà khoa học tham dự Hội thảo đã quyết định chọn mốc ngày 01 tháng 10 năm 1788 làm mốc ra đời của thành phố Vinh.
  4. Toàn văn bài viết: “Vấn đề xác định năm ra đời của thành phố Vinh hiện nay”, của PGS. Hoàng Văn Lân, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số1 (302) (I- II), năm 1999, tr.56-66; sau đó được Tạp chí Khoa học Công nghệ và Môi trường Nghệ An đăng lại. Năm 2013, bài viết này được in lại toàn văn trong cuốn sách: “Hoàng Văn Lân với Sử học”, Nxb. Nghệ An, 2013, tr276 -292.
  5. Nguyễn Quang Hồng: Thành phố Vinh - Quá trình hình thành và phát triển (từ năm 1804 đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945), Nhà xuất bản Nghệ An, 2003.

6.7. Đào Tam Tỉnh: Khoa bảng Nghệ An 1075 -1919, Nhà xuất bản Nghệ An, 2005 và Tìm trong di sản văn hóa Xứ Nghệ (những phát hiện tiêu biểu), Nhà xuất bản Nghệ An, 2010.

  1. Ninh Viết Giao: Tục thờ thần và thần tích Nghệ An, Nhà xuất bản Nghệ An, 2000, tr 189 -2018.
  2. Bùi Dương Lịch: Nghệ An ký, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, H, 1993.
  3. Ngoài việc đánh giá cao tiềm năng của cảng Bến Thủy, ngày 17 tháng 3 năm 1930, Hội đồng các Hải cảng Đông Dương đã ra thông báo về Dự án cải tạo cảng Bến Thủy (toàn văn bản thông báo này đăng trên Tạp chí Chấn hưng kinh tế Đông Dương, số 690 ra ngày 14/6/1931) với tổng kinh phí dự toán ban đầu là 10.000.000 Fr. Nhưng, dự án này chưa kịp triển khai thì Xô viết Nghệ Tĩnh bùng nổ. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến Dự án cải tạo cảng Bến Thủy, dự án xây dựng nhà máy nước sạch, xây dựng hệ thống thoát nước cho thành phố Vinh - Bến Thủy,… không được thực thi. Không rõ vì nguyên nhân nào, cuối thế kỷ XX, người ta quyết định bỏ cảng Bến Thủy để đầu tư xây dựng, phát triển cảng Cửa Lò, trong khi theo tài liệu tính toán của các kỹ sư người Pháp thì việc đầu tư cải tạo nạn cát bồi, mở một đường biển phía Bắc gọi là đường Lộc Châu nối khúc cuối sông Lam với biển và mở một con đường thủy phía Nam gọi là Đan Hải nối sông Lam với biển để tàu có tải trọng từ 2 - 3 vạn tấn ở cảng sông Bến Thủy cho giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với đầu tư xây dựng cảng biển Cửa Lò ( N.Q.H chú).
  4. Trong một số công trình đã công bố, người ta nhầm lẫn sự kiện ngày 20 -10 -1898 (tức ngày 6 tháng 9 năm Thành Thái thứ 10 (6/9/1898 âm lịch) các đại thần trong Cơ mật viện triều đình Huế là: Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thuật, Trương Như Cương, Hoàng Vĩ dâng tấu trình lên vua Thành Thái đề nghị nhà vua thành lập các trung tâm thành phố (hiểu theo nghĩa là trung tâm đô thị) ở Trung kỳ, với sự kiện ngày 12 tháng 7 năm 1899 (tức ngày 5 tháng 6 năm 1899 Âm lịch), vua Thành Thái ban hành Đạo dụ thành lập trung tâm đô thị Vinh cùng 5 trung tâm đô thị khác ở Trung kỳ.

Đối chiếu với Công báo của Chính phủ Đông Dương (Journal official de L,indochine Francaise n015, Jeudi 20 Février 1902) về khái niệm “phố” và “thành phố”, “thị xã”, căn cứ vào Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 30 tháng 8 năm 1899, thì Vinh và cả 05 đô thị ở Trung kỳ chỉ là Trung tâm đô thị (Centre urbaine), chứ không phải là thành phố ville hiểu theo nghĩa của người Pháp.

  1. Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam thành phố Vinh: Lịch sử Đảng bộ thành phố Vinh (1930 - 2005) sơ thảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr197 -201.
  2. UBND thành phố Vinh: Địa chí thành phố Vinh, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, 2015, tr 220 -223.
KHXHNV & Đời sống khác:
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc giảng dạy triết học Mác -Lênin tại Trường đại học Kinh tế Nghệ An hiện nay (11/9/2018)
Quan điểm của Xuân Diệu trước 1945 về tính dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại của văn học Việt Nam (10/9/2018)
Những người phụ nữ đi đầu trong “Tuần lễ vàng” (6/9/2018)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức trong - Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp (31/8/2018)
Lịch sử một dân tộc “dễ bị tổn thương” (31/8/2018)
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về Khoa học và công nghệ trong giai đoạn phát triển mới (28/8/2018)
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Đại thắng từ lòng dân (19/8/2018)
Tác động của tivi và những thay đổi trong quan hệ gia đình, cộng đồng của người Thái (Qua tư liệu Dự án ti vi tại huyện Quỳ Châu và Quế Phong, tỉnh Nghệ An (13/8/2018)
Chiến tranh, nỗi đau và hi vọng (7/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 714 | Tất cả: 1,468,338
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp