KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn
Tin đăng ngày: 8/10/2018 - Xem: 63
 

Trần Nhân Thiện

Upload

Núi Dũng Quyết nhìn từ trên cao   Ảnh: Sách Nguyễn

Lúc vâng lệnh vua Thái Đức là Nguyễn Nhạc ra đánh chiếm xong Phú Xuân từ tay họ Trịnh (1784), Nguyễn Huệ cũng chỉ với chức quan là Long nhương tướng quân do hoàng huynh ban. Sang năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Huệ ra Bắc xóa bỏ phủ chúa, tập trung quyền hành cho vua Lê. Khi ngài đã làm xong việc ấy thì Nguyễn Nhạc cũng đi ra. Đoạn, hai anh em cùng về Nam. Bấy giờ Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung Ương hoàng đế, đô ở Quy Nhơn, phong Nguyễn Lữ làm Đông Định vương, đô ở Gia Định và Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vương, đô ở Phú Xuân (quản lĩnh miền đất từ Hải Vân ra đến sông Gianh).

Sau đó, giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ có xẩy ra sự bất hòa. Nhưng việc cũng mau dàn xếp xong(1), bởi trong tư tưởng, Bắc Bình vương vốn không có ý đồ làm vua(2). Rồi, Bắc Bình vương về lại Phú Xuân và chỉ muốn bờ cõi của nhà Tây Sơn là từ sông Gianh trở vào. Song, cũng sau chuyến đi ra Bắc dịp nọ ngài mới nhận ra, tình hình ở Bắc Hà là chưa thể yên. Thể hiện ở chỗ lúc ngài đang bận việc ở Quy Nhơn thì Nguyễn Hữu Chỉnh, sau khi tụ tập được một số quân binh, đã kéo ra Thăng Long lộng hành, muốn thay quyền chúa Trịnh như cũ. Rồi Vũ Văn Nhậm được phái ra trị tội Chỉnh, đoạn y lại dẫm lên vết xe đổ ấy, khiến Bắc Bình vương phải thêm một chuyến Bắc hành để trừ khử Nhậm và thêm một bước, chấn chỉnh lại triều Lê. Còn vị vua mới được lập lên là Chiêu Thống thì không tin vào nhà Tây Sơn và dân nước nên đã cùng Thái hậu chạy sang cầu cứu nhà Thanh khi mà hoàng đế Càn Long ở bên đó đang chờ cơ hội. Tại đất Gia Định, Nguyễn Ánh vẫn ra sức khôi phục vương quyền của tông tộc mình và người Pháp đang tìm cớ “đòi món nợ” mà Bá-đa-lộc đã thay quyền chúa Nguyễn có Hoàng tử Cảnh đi theo làm con tin, ký với họ năm 1787(3). Như vậy, với hoàn cảnh của Bắc Bình vương lúc bấy giờ, mỗi khi có việc phải tiến quân ra Thăng Long thì từ Phú Xuân đến Bắc đèo Ngang, hình thế núi, sông đã thật là hiểm trở nên vương muốn chọn một nơi nào đó ở Nghệ An để đóng đô. Điều ấy đã được ngài bày tỏ cả về lòng ủy thác công việc trong Chiếu gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp lần đầu tiên vào năm 1787. Mà ý định ấy của Bắc Bình vương vào lúc đó cũng không phải dễ dàng được Nguyễn Thiếp vâng theo vì Phu tử một mực giữ lòng trung với nhà Lê. Tuy nhiên, việc làm chính nghĩa của Bắc Bình vương ngày càng sáng tỏ, rồi qua những biến động ở Bắc Hà, đoạn vua Lê sang cầu cứu nhà Thanh hòng đánh lại phong trào nông dân thì ngài hết hy vọng ở triều xưa nên chịu xuống núi giúp ý kiến về chiến trận và tìm vị trí tại Nghệ An để Bắc Bình vương đóng đô; cũng như sau khi Hoàng đế Quang Trung băng hà thì Phu tử vẫn giúp vua Quang Toản.

Thuyết phục được bậc Phu tử vốn ôm mối “cô trung” với nhà Lê như vậy thuở bấy giờ,  Hoàng đế Quang Trung (kể từ buổi mới là Bắc Bình vương) đã tỏ rõ một phần là Thiên tài quân sự của thời đại.

Còn với Nghệ An, ta hãy phác lại bản đồ về địa thế núi sông của miền đất nơi đây để thấy rõ phần nào ở tầm nhìn rất thức thời về nơi đóng đô của vị Hoàng đế xuất thân là “Áo vải, cờ đào” thuở ấy.

Hãy bắt đầu từ núi Đại Huệ, nơi vua Hồ Quý Ly cho con là Hồ Nguyên Trừng vào chốt giữ khi quân Minh lăm le sang xâm chiếm Đại Việt. Nơi này, sách “Nghệ An ký” viết như sau: “Đại Huệ sơn, nhất điều vị Quỳ Châu lai mạch chi chỉ, đông hạ xuất hải vi Song Ngư đảo. Đại Huệ chi bắc hữu Cương Giang tây lưu chuyển nhập Lam Giang. Đại Huệ chi nam hữu Nộn Hồ đông lưu chuyển nam nhập Lam Giang. Lam Giang nhất đái tòng tây bắc xu nam, tòng nam quy đông bắc, đương tiền quýnh bão giang nam Thiên Nhẫn Sơn. Tây lai tác án kỳ gian cao bình sảng xu. Nộn Liễu, Chung Cự, Tự Trì, Dương Xá chư tinh phong thác lạc phân bố. Thử Nghệ An chi tối trung dã”. 大 惠 山 一 條 爲 葵 州 来 脉 之 止, 東 下 出 海 爲 雙 鱼 島.大惠 之 北 有 岗 江 西 流 轉 南 入 蓝 江.大 惠 之 南 有 嫩 湖, 東 流 轉 南 入 蓝 江.蓝 江一 带 從 西 北 趣 南 從 南 帰 東 北.當 前 迥 枹 江 南 千 仞 山.西 来 作 案 其 间 高 平 夹 墟. 嫩 柳 鍾 巨 自 持 杨 舍 諸 星 峰 错 落 分 布, 此 乂 安 之 最 中 也: “Đại Huệ là nhánh tận cùng mà mạch là từ đất phủ Quỳ Châu tỏa về. Phía Đông, núi đi ra biển thành đảo Song Ngư, phía Tây Bắc Đại Huệ có sông Cương (địa phương gọi là Rào Gang). Sông Cương chảy theo hướng Tây rồi chuyển sang Nam mà đổ vào sông Lam. Phía Nam núi Đại Huệ có Nộn Hồ (Hồ Nón) chảy về Đông rồi cũng chuyển sang Nam mà đổ vào Lam Giang. Phía Nam (của nơi ấy) cách bờ sông Lam một quãng là vùng núi Thiên Nhẫn từ phía Tây kéo đến, án ngự; (còn) những núi ở các xã Nộn Liễu, Chung Cự, Tự Trì xuống Dương Xá (đất Hưng Nguyên) thì được phân bố rải rác ở trên cả địa bàn Đông và Tây của con sông (cũng là hồ) Nộn ấy. Đó thật là nơi trung tâm đất Nghệ”(4).    

Ấy là trung tâm về địa thế ở vùng đồng bằng và châu tuần về nơi đó, từ phía Tây Nam, ta phải kể thêm núi Lam Thành.

Sách “Nghệ An ký” ghi (phần đầu): “Lam Thành Sơn tại Hưng Nguyên, Phú Điền xã, cổ xưng Đồng Trụ Sơn, nhất danh Tuyên Nghĩa Sơn, hựu danh Hùng Sơn. Bình nguyên đột khởi nhất điều tuấn bạt hùng vĩ, trung nhất đính hữu Minh Trương Phụ Thành. Đính thượng sáp kỳ khảm. Tương truyền cổ Đồng Trụ xứ. Sơn bán hữu Tuyên Nghĩa miếu... Sơn hạ hữu An Quốc tự. Trần Trùng Quang đế thời, La Sơn Nguyễn Ngự sử Công Biểu phụng cầu phong, tử tiết vu thử... Đăng sơn diểu vọng tắc tây chi Hùng Lĩnh, Đại Huệ chư sơn; bắc chi Đại Hải, La Nham chư sơn, Nam chi Thiên Nhẫn, Hồng Lĩnh chư sơn; đông chi Kim Nguyên, Dũng Quyết chư sơn, giai tại củng tập, giang quang thụ thúy, cận phố giao thôn, phong cảnh như họa. Thị Nghệ An đại danh thắng...”. 蓝 城 山 在 興 元 富 田 社, 古 称 铜 住 山 ,一 名 宣 義 山,又 名 熊 山.平 原  突 起 一 條 峻 拔 雄 伟. 中 一 顶 有 明 张 辅 城.顶 上 称 旗 坎 相 傳 古铜 住 处.山半 有 宣 義 廟...  山 下 有 安 国 寺. 陈 重 光 帝 时, 羅 山 阮 御 史 公 表 奉 求 封,死  節 于 此...登山 眺 望,则 西 之 雄 嶺 大 惠 諸 山,北 之 大 海 羅 岩 諸 山;南 之 千 刃 鸿 嶺 諸 山.東 之 金 源,勇 决 諸 山,皆 在 拱 揖.江光 樹 翠,近 浦 遥 村,风 景 如, 是 乂 安 大 名 胜...“Núi Lam Thành ở xã Phú Điền, huyện Hưng Nguyên, xưa gọi là núi Đồng Trụ, lại có tên là núi Tuyên Nghĩa và Hùng Sơn (núi Gấu). Núi cao lớn, hùng vĩ đột xuất nổi lên giữa đồng bằng. Trong đó, một ngọn có thành của Trương Phụ nhà Minh. Trên đỉnh có lỗ cắm cờ. Tương truyền ấy là chỗ ngày xưa (quân nhà Hán) dựng Cột Đồng. Ở lưng chừng núi có miếu Tuyên Nghĩa(5). Chân núi có chùa An Quốc. Thời vua Trùng Quang nhà Trần (1409 - 1413), quan Ngự sử Nguyễn Biểu, người huyện La Sơn vâng mệnh đi sứ cầu phong, tử tiết ở nơi này... Lên núi trông xa thì thấy phía Tây có Hùng Lĩnh và núi Đại Huệ, phía Bắc có núi Đại Hải và núi La Nham, phía Nam có núi Thiên Nhẫn và núi Hồng Lĩnh. Phía Đông có núi Kim Nguyên và núi Dũng Quyết, tất cả đều chầu về núi này. Cây xanh, nước biếc, phố gần, thôn xa, phong cảnh như vẽ. Thật là một nơi đại danh thắng của Nghệ An”. 

Rồi, ta hãy trở lại với dải Đại Huệ - Đại Hải - Thai Phong và Đầu Cân sơn để nhận rõ thêm sự châu tuần của núi sông về nơi Dũng Quyết.

Về Đại Huệ, ở sách “Nghệ An ký” phần viết riêng về núi này có đoạn:

“Đại Huệ sơn tại Nam Đường, Nộn Liễu xã, Nam Đường chi đại sơn dã, bắc vọng Đại Hoạch, đông liên Đại Bàn, Đại Tứ, Đại Hải tối chỉ Thăng Thiên động. Động phúc hữu Hồ Vương Đại Tuệ tự. Tự tả hữu tuyền nhạn vi Thạch Tỉnh sơn yêu, trà, mính thương thúy khả ngoạn, phủ hám Nộn Hồ. Hồ nam vi Nộn Liễu, Lâm Thịnh nhị tổng, dân cư bình khoáng, như kỳ bàn. Anh Duệ, Dương Chung chư phong thố lạc như kỳ tử. Hùng Lĩnh trĩ kỳ hữu, Lam Thành Sơn trĩ kỳ tả, Cương Giang, Nộn Xuyên triển nhiễu kỳ Tây, Đông. Tiền vọng Lam Giang nhất điều viên bão, phàm tường luân trại, duyên hối vãng lai ư hiểu hạ mộ yên gian. Giang nam Thiên Nhẫn sơn, bài thanh hiến tú, cận tại cung tập, thực Nghệ An đại danh thắng. Thanh Trì Búi Chấp Chính công đăng Sài sơn (6) Đại Tuệ thi vân:

Thiên tranh liệt chướng hồn nghi dực

Địa chiết trường giang lược tự câu.

Khứ lộ nha điều tăng hiệp hổ

Quy tiên khiêu thái mục tuần ngưu”...

大 惠 山 在 南 塘 嫩 柳 社 南 唐 之大 山也.北 望 大 镬.東 联 大盤 大驷 大 海 最 旨昇天峝.峝 腹 有 胡 王 大慧 寺.寺 左有泉 涯 爲 石井山 腰.茶 茗 蒼 翠 可 玩 俯 憾 嫩 湖.湖 南 爲 嫩 柳 林 城 盛 二 总. 民居 平 旷,如 棋 砧.英 锐 杨 鍾 諸 峰 错 洛 如 棋子. 雄 嶺 峙 其 又. 蓝 城山 峙 其 左 岡 江 嫩 川 纏 绕 其 西 東,前 望 蓝 江 一 條 圜枹.帆 樯 轮 霅 沿 泅 往 來 於 皢 霞 木暮烟 間.江南千刃山 排 青 献秀 近 在 拱 輯, 寔 乂安 一 大 名 胜. 青 池 裴執 政 公 登 柴 山 大 惠 詩云:

天挣 列 障 浑 疑 翼

地折 长 江 略 自 钩

去 路 穿 條 僧 侠 虎

帰 鞭 挑 菜 牧 燻 牛.

Lời dịch: “Núi Đại Huệ ở xã Nộn Liễu, huyện Nam Đường, là núi lớn trong huyện. Phía Bắc trông sang núi Đại Hoạch, phía Đông liền với các núi Đại Bàn, Đại Tứ và Đại Hải. Trên đỉnh có động Thăng Thiên, trong động có chùa Hồ Vương Đại Tuệ. Bên trái chùa có một ngọn suối, chảy thành giếng đá, sườn núi chè trồng xanh tốt, rất đáng ngoạn thưởng. Chân núi có Hồ Nón (Nộn Hồ). Phía Nam hồ là hai tổng Nộn Liễu và Lâm Thịnh, địa thế cư trú bằng phẳng vuông vắn như bàn cờ. Các ngọn Anh Nhuệ và Dương Chung đứng rải rác như quân cờ. Núi Hồng Lĩnh đứng đối trĩ bên phải, núi Lam Thành bên trái. Sông Gang và sông Nộn chảy quanh phía Đông và phía Tây. Mặt trước nhìn ra sông Lam bao quanh một dải. Thuyền bè, xe ngựa ngược xuôi trong cảnh nắng sớm, mù chiều. Phía Nam sông có núi Thiên Nhẫn phô xanh, bày đẹp gần như vái chào. Thật là một đại danh thắng của Nghệ An.

Quan trấn Bùi (Huy Bích), người Thanh Trì (tỉnh Hà Đông, khi nhậm trị ở Nghệ An), lên thăm chùa trên núi này có thơ:

... Trời chăng rặng núi như xòe cánh,

Đất uốn dòng sông tựa móc câu.

Lối cũ ngõ xuyên sư bỡn hổ,

Đường về roi phất, trẻ giong trâu...”(7).

Trên núi Đại Huệ (nay thuộc xã Nam Anh, Nam Đàn) còn có dấu tích về một dãy thành cổ (xếp bằng đá). Dân gian kể lại, thành vốn do vua Hồ Hán Thương (1401-1407) theo lệnh phụ hoàng vào đây đắp, nhằm để chặn quân Minh. Núi Đại Huệ chạy về phía Đông Bắc tạo thành ngọn Đại Hải. Vẫn lai lịch về tổ quán của nhà Tây Sơn, “Nghệ An ký” viết tiếp:

“Đại Hải sơn tại Hưng Nguyên, Hương Cái xã, Hưng Nguyên chi trấn sơn dã, tòng Đại Huệ lai, liên lụ đông hạ chí thử hốt chỉ. Cao đại, tề chỉnh, vọng chi như bình. Đông cự Ngư Hải ngũ thập lý. Kỳ gian vi Chân Phúc huyện lỵ chi địa...  Do tang thương biến di, cố thử sơn hữu Đại Hải chi danh... Sơn nam hạ thị Thai Phong... Tại Thái Lão xã thị Tây Sơn Nguyễn Nhạc tổ quán. Nhạc tự ngôn kỳ tứ thế tổ lưu ngụ vu Quy Nhân phủ, Phù Ly huyện, Tây Sơn trại... 大 海 山 在 興 元, 香 盖 社, 興 元 之 鎮 山也, 從 大 惠 来, 联 路 東 下 至 此 忽 止. 高 大 齐 正, 望 之 如 屏, 東 距 鱼 海 可 五 十 里. 其 間 爲 真 福 縣 蒞 之 地...由 桑 滄 变 移, 故 此 山 有 大 海 之 名... 山 南 下 是 台 峰... 在 蔡 老 社, 是 西 山 阮 岳 祖 贯. 岳 自言 其 四 世 祖 流 庽 于 帰 仁 府, 符 離 縣, 西 山 寨... ”.

Lời dịch: “Núi Đại Hải ở xã Hương Cái, huyện Hưng Nguyên, là núi đứng trấn trong huyện. Mạch từ núi Đại Huệ lại rồi liên lũ xuống phía Đông, đến đó bỗng dừng lại. Dáng núi cao lớn, ngay ngắn trông như bức bình phong. Phía Đông cách biển Hòn Ngư độ năm, sáu mươi dặm. Ấy là chỗ hồi xưa đặt lỵ sở của huyện Chân Phúc... Bởi cảnh bể dâu đổi thay như thế nên núi ấy có tên gọi là Đại Hải (Biển Lớn). Phía Nam đi xuống là núi Thai Phong thuộc xã Thái Lão. Đó là quê quán của tổ tiên Tây Sơn Nguyễn Nhạc. Ngài tự cho: Ông tổ bốn đời của mình (từ đó) lưu ngụ ở trại Tây Sơn, huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn (tỉnh Bình Định)”.

Dõi về đất tổ buổi ban sơ của dòng họ Nguyễn Tây Sơn thì như trên kia đã trình bày, vị thủy tổ là Hồ Hưng Dật đến và chốt giữ đất Ngũ Bàu (Quỳnh Lưu). Đến triều Hồ, vua Hán Thương đã cho xây dựng đền miếu tại đấy để thờ tự. Sách “Nghệ An ký” cũng trình bày về cái nhìn của anh em Nguyễn Huệ thuở ấy:

“Bào Giang sơn tại Quỳnh Lưu Bào Giang xã chi đại sơn dã, tòng Kê Qua Sơn đông hạ. Hình thế hiểm trở... cựu hữu Hồ Vương miếu tại sơn lĩnh. Sử ký: Hồ Hán Thương Khai Đại nguyên niên sáng Linh Nguyên Bào Đột chư lăng tẩm, dĩ phụng tiên tổ. 泡 江 山 在 琼 瓊 溜 泡 江 社 之 大 山 也, 從 鳮 冠 山 東 下.形 势 深 阻...旧 有 胡 王 庙 在 山 嶺.史 记:胡 汉 篬 開 大 元 年 创 霊 源 泡 突 諸 陵 寝 庙,以 奉 先 祖”.

Lời dịch: “Bào Giang là dãy núi lớn ở  xã Bào Giang, huyện Quỳnh Lưu. Núi ấy từ dãy Kê Quan (Mồng Gà) chạy xuống phía Đông, hình thế hiểm trở... Ngày xưa có miếu Hồ Vương ở trên đỉnh. Sách “Sử ký” chép: Vua Hồ Hán Thương, Khai Đại năm đầu cho xây các lăng tẩm, đền miếu ở Bào Đột để phụng thờ tiên tổ”.      

Từ Bào Đột nhìn về phía Tây Đông là miền Mộ Dạ Sơn ăn ra sát biển. Nơi cuối cùng của sơn mạch ấy (giáp với biển Nghi Lộc) có một khối núi như là cột đá đứng trơ vơ nơi cát mặn sóng dồi. Nhân gian gọi đó là núi Đầu Cân (投 巾 山), tức khối đá để gieo khăn. Đó là nơi mang tích truyện về vua Thục An Dương Vương (hồi thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). Khi vì vô ý trao Nỏ thần cho con rể là Trọng Thủy rồi bị chàng phản bội mà giặc phương Bắc sang cướp nước thì ngài cùng con gái lên ngựa, chạy vào trong này. Đến chỗ ấy coi như cùng đường, An Dương Vương liền lấy chiếc khăn vốn để làm hiệu ném lên khối đá kia rồi cho ngựa phi ra biển, cùng con gái trẫm mình. Từ đó, khối đá được mang tên là núi Đầu Cân(8). Về sau nhân dân địa phương đã xây đền, là nơi thờ Thục An Dương Vương đầu tiên tại Nghệ An ở dưới chân khối núi ấy. Nơi đó, nhìn về Nam, cách đảo Song Ngư không xa.

Núi Đầu Cân cũng như Lô Sơn (爐山) tức Rú Lò ở biển Ngư Hải, đều đứng án ngự bên bờ biển như làm các vị trí tiền tiêu cho đỉnh cao Dũng Quyết.

Ta đã điểm qua núi non ở cả bốn phương để nhìn lại Dũng Quyết Sơn, nơi Hoàng đế Quang Trung cho xây Phượng Hoàng Trung Đô. Sách “Nghệ An ký” viết về núi này:

“Dũng Quyết sơn tại Chân Lộc, Dũng Quyết xã, tòng Đại Hải Sơn lai. Bình Dương đột khỉ phủ hám Yên Lạc giang độ. Sơn nam hữu động. Động khẩu hữu Sơn Quang tự. Sơn tây xuất nhất phong tuyệt tiêu Ngọc Thỏ, tục viết Miêu Nhi Phong. Sơn đính nhất phương thạch đắng bình thản. Thanh Trì Bùi Chấp chính công Dũng Quyết sơn xuân vọng, vân:

Vọng lâu thạch tích bình hoa đắng

Tiên động cầm thanh cấu thảo lư

Tinh hoàn vị cùng thiên hải thú

Long Xuyên diểu diểu Hội, Song Ngư.

 勇 决 山 在 真 禄, 勇 决 社,從 大 海 山 来.平 阳 突 起 俯 憾 安 楽 江 渡.山 南 有 峝.峝 口 有 山 光 寺,山 西 出 一 峰 绝 肖 玉 兔,俗 曰 貌 兒 峰.山 嵿 一 方 石 磴 平 坦.青 池 裴 执 政 公 勇 决 山 春 望, 云:

...望 楼 石 踖 平 花 磴                

僊  洞  琴  聲  構  草 盧

静  玩  未  穷  天 海  趣

龍  川  淼  淼  會 双  鱼” .

Lời dịch:

“Núi Dũng Quyết ở xã Dũng Quyết, huyện Chân Lộc(9). Mạch từ núi Đại Hải chạy xuống đồng bằng rồi đột khởi, nổi cao mà trông xuống bến sông Yên Lạc. Phía Nam núi có động, cửa động có chùa Sơn Quang. Phía Tây núi có một ngọn nhỏ giống hình con thỏ, tục gọi là ngọn Con Mèo (Miêu Nhi phong)(10). Trên núi có một tảng đá vuông vắn, bằng phẳng. Quan Hiệp trấn Nghệ An Bùi Huy Bích khi chơi xuân ở núi này đã làm thơ (Mai Xuân Hải dịch):   

... Vọng lâu thềm đá hoa lồng

Mái tranh dựng giữa bâng khuâng tiên đàn.

Ngắm nhìn trời biển mênh mang,

Long Xuyên bát ngát tận đàn Song Ngư”.   

Đấy là chưa nói đến cái hình thế, dưới chân núi là dòng sông Lam thông ra biển lớn, cách chỉ mấy “ngọn sào”. Thật là chốn đắc địa để xây kinh thành dã chiến, nhằm lo việc thống nhất giang sơn thuở bấy giờ. 

Nhìn lại tình cảnh đất nước hồi cuối thế kỷ XVIII, ta thấy chủ trương của Nguyễn Huệ khi còn là Bắc Bình vương về việc chọn núi Quyết để đóng đô là trong sáng và có tầm chiến lược cao nên đã tranh thủ được sự đồng tình của cả các bậc đại thần, giới nho sĩ trí thức. Nhờ vậy, kinh đô Phượng Hoàng đã được xây dựng một cách khẩn trương và nhà vua cũng đã dành nhiều thì giờ để lưu lại ở nơi này.

Nhớ là, vào thời gian ấy vua nhà Thanh lại ban Sắc và cả làm thơ gửi cho Hoàng đế Quang Trung, giao Phúc An Khang (Tổng đốc Lưỡng Quảng) đem sang Thăng Long ban tặng. Nên mùa Thu năm Kỷ Dậu (1788), vua Quang Trung viết thư cho Phúc, nói: “Tháng Bảy, tiểu phiên (lời tự xưng nhún nhường) từ Thăng Long về địa phương Nghệ An xây dựng tiểu ấp, (nhưng) việc đắp thành sẽ hoãn lại mà sửa soạn ra Thăng Long để đón sắc phong và ngự thi. Tuy nhiên, việc khó xẩy ra cho thần là ra đến Đông Thành thì bị cảm phong sương, mắc chứng thương hàn... Mà tại Nghệ An thì đài, điện chưa xây xong khiến thần phải tạm ở lại thành này để chữa bệnh... ”.

Sách “La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn” viết: “Tuy rằng vua Quang Trung thường đặt chuyện để dối vua Thanh nhưng chuyện cuối tháng Bảy ngài ra Nghệ An, cuối tháng Tám năm ấy (1788) về Phú Xuân là chuyện có thực”(10).

Trong Chiếu gửi La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp đề: “Quang Trung năm thứ hai, ngày 5, tháng Mười (1789) ”, nhà vua viết: “Trẫm kim đô tại Nghệ An, dữ Tiên sinh mật nhĩ, hành thả tương trợ vi lý”. 朕 今都 在乂 安 與 先 生 密 邇 行且相 助为理. “Trẫm nay đóng đô tại Nghệ An, cùng Tiên sinh gần gũi. Rồi đây Tiên sinh hãy ra mà giúp nhau để trị nước ”(11).

Tiếc là triều đại Quang Trung quá ngắn ngủi, nhưng chủ trương của vị hoàng đế xuất thân từ “áo vải” trên đất Nghệ An, với việc cho chuyển tỉnh thành từ Phù Thạch ra Vĩnh Doanh và xây Phượng Hoàng Trung Đô tại núi Quyết là những công tích mở ra một thời đại mới cho doanh trấn thuộc vùng Hồng Lĩnh - Lam Giang, để nơi này, từ thuở bấy giờ thêm thành là một điểm tựa chiến lược quan trọng của đất nước.

 

Chú thích

(1) Trần Trọng Kim viết trong “Việt Nam sử lược”, Nxb. Văn hóa - Thông tin Hà Nội. 1999, tr.390 rằng: “Được ít lâu (tức sau khi phân định vùng đất cho mỗi người quản lĩnh), Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ có chuyện hiềm khích với nhau, Nguyễn Huệ đem binh vào đánh vây thành Quy Nhơn, ngặt đến nỗi Nguyễn Nhạc phải lên thành mà kêu khóc, gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng: Nỡ lòng nào nồi da nấu thịt!”. Chuyện có lẽ bắt nguồn từ chỗ Nguyễn Huệ sau khi lấy xong Phú Xuân thì đã ra Thăng Long làm các công việc như đã nói mà Nguyễn Nhạc thì không thấy hết sứ mệnh lịch sử của em mình ở chuyến đi ấy.

(2). Sau này, trong Chiếu gửi La Sơn Phu tử đề ngày Ba tháng Chín năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Huệ vẫn lấy niên hiệu là “Thái đức” và ngài viết: “Cổ vân: Dư vô lạc hồ vi quân, Quả cung thành bất dĩ Nam diện vi lạc (古 云:予 無 楽 乎 爲 君.寡 宫 诚 不 以 南 面 爲 楽)”. Có nghĩa là: “Người (tức các vị hoàng đế) xưa nói: Ta chẳng coi việc giữ ngôi vua làm niềm vui... Quả cung với lòng thành cũng không lấy việc ở ngôi làm chuyện sung sướng”. Về tên húy của Phu tử, đúng ra, phải đọc là Nguyễn Thiệp (阮 渉)  nhưng thường thì cứ viết là Nguyễn Thiếp; cũng như tên tự của ngài là Khải Xuyên thì chính là Khải Chuyên (啓 磚). Có lẽ đó là cách gọi tránh húy của dân gian rồi các sách lúc bấy giờ cũng viết như vậy. Tờ Chiếu chính thức (lần đầu) mà Bắc Bình vương gửi Phu tử ấy vẫn lấy đế hiệu của Nguyễn Nhạc nên đề ngày: “Thái Đức năm thứ 11, Mậu Thân (1788), tháng Sáu, ngày Mồng một”.

(3). Tức bản thỏa thuận với các điều ước: triều đình Pháp nhận giúp Nguyễn Ánh về lính lấy từ thuộc địa ở châu Phi (Cafres) và nhiều súng đạn (để Nguyễn vương đánh quân Tây Sơn). Đổi lại, Nguyễn vương phải nhường cho nước Pháp cửa bể Hội An, đảo Côn Lôn và để cho riêng người Pháp được tự do ra vào buôn bán ở An Nam. Rồi khi nước Pháp cần lính người Việt thì Nguyễn vương phải cung cấp...!

(4). Phần trình bày về núi, sông chỗ này lấy ở sách “Nghệ An ký”, dịch giả là Nguyễn Thị Thảo, mà bản chữ Hán là tại tr.52 và chúng tôi phiên âm ra tiếng Việt. Về các núi Đại Huệ, Thai Phong ta sẽ còn đề cập đến ở phần sau.

(5). Về nguyên tác, bản vi tính chữ Hán và lời dịch ở đoạn này thì cũng như điểm chú thích mà chúng tôi đã ghi về vùng núi trong đó có ngọn Đại Huệ ở trang trên. Xin có vài nét chú thích thêm ở điểm này: “Mộc Bất Bạt” chắc là Mộc Thạnh, tướng nhà Minh , tương truyền y đã cho dựng lại Cột đồng (vốn có từ thời Đông Hán), nên Lam Thành Sơn cũng được gọi là núi Đồng Trụ. Núi này còn có tên là núi Con Gấu. (“Ngận Sơn”, do chữ “Hùng” (熊) cũng hiểu là con gấu). Về miếu Tuyên Nghĩa ở trên núi, có thuyết cho đó là nơi thờ một tướng Tàu tên là Thái Phúc, vốn đóng quân tại đó. Ông ấy nghe lời kêu gọi của nghĩa quân Lam Sơn (1418-1428) mà ra hàng. Rồi ông bị vua Minh xử tội chết. Về sau vua Lê Thái tổ cho dựng miếu lấy tên là “Tuyên nghĩa” (nói rõ về lẽ phải), thờ ông tại đấy.

(6). Sài sơn: Ngọn núi, nơi cho củi, cho cỏ.

(7). Phần trích, và phiên âm, vi tính chữ Hán như đã nói ở chú thích về núi Lam Thành. Lời dịch bốn câu thơ trên là của Đỗ Ngọc Toại.

(8) Đầu Cân Sơn (投巾山) ở đây, cũng có nghĩa như Thác Đao Điền (托 刀 田 - ruộng ném dao) tức thái ấp được phong vào đầu thời nhà Lý.

(9). Chân Lộc là tên huyện có từ thời Lê. Sau này người ta tách phần bên hữu ngạn sông lập thành huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh).

(10,11). La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Sđd, tr.1055, 1058.

KHXHNV & Đời sống khác:
Khoa học và công nghệ tạo đột phá trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp (4/12/2018)
Kinh tế Nghệ An sẽ thích ứng như thế nào trước cách mạng công nghiệp 4.0 (4/12/2018)
Học tập và vận dụng tấm gương tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/11/2018)
Nhân tính, Quốc tính và Cá tính (28/11/2018)
Giáo dục Mới tại Việt Nam: Những nhà tiên phong thể nghiệm (23/11/2018)
Giáo dục lương tâm? (23/11/2018)
Ngô Thì Nhậm, người kế tục xứng đáng truyền thống văn chính luận Việt Nam trung đại (14/11/2018)
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia (9/11/2018)
Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng của Karl Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay (9/11/2018)
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 448 | Tất cả: 1,556,301
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp