ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Trung đoàn 4, Sư đoàn 337 trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979
Tin đăng ngày: 12/9/2018 - Xem: 26
 

Trần Hữu Vinh

    Upload

Chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979    (Ảnh: Tư liệu)

Ngày 26 tháng 4 năm 1973, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận Trị - Thiên quyết định thành lập Trung đoàn bộ binh 4, trực thuộc Bộ Tư lệnh mặt trận Trị - Thiên. Địa bàn đóng quân của Trung đoàn là hai huyện: Phong Điền và Quảng Điền (Thừa Thiên).

    Từ cuối năm 1976, tình hình Trung - Hạ Lào diễn biến hết sức phức tạp, ở một số vùng, bọn phản động đã nắm được chính quyền, nguy cơ bạo loạn, lật đổ cao. Tình hình biên giới phía Bắc nóng lên từng ngày... Trước tình hình đó, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập một số đơn vị mới, trong đó có Sư đoàn 337.

   Thực hiện quyết định số 252/QĐ-TM của Tổng tham mưu trưởng: chuyển đoàn kinh tế 337, thuộc Tổng cục xây dựng kinh tế thành Sư đoàn 337 bộ binh thuộc Bộ tư lệnh Binh đoàn 678, làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Ngày 28 tháng 7 năm 1978, Sư đoàn 337 được thành lập tại khu vực chợ Cọi, xã Hưng Lộc, thành phố Vinh, tỉnh Ngệ An do đồng chí Đỗ Phú Vàng làm Sư đoàn trưởng, Nguyễn Chấn làm Chính ủy.

  Thực hiện mệnh lệnh điều động của cấp trên, Trung đoàn 4 ra Nghệ An làm nhiệm vụ, đóng ở Đô Lương. Tổ chức biên chế của Trung đoàn gồm: Đại đội 14 cối 82, Đại đội 13 DKZ, Đại đội 15 công binh, Đại đội 16 phòng không, Đại đội 17 vận tải, Đại đội 18 quân y, đại đội 19 thông tin, Đại đội 20 trinh sát và một số trung đội cảnh vệ, 3 tiểu đoàn bộ binh, cơ quan chỉ huy gồm 4 ban: Tham mưu, Chính trị, Hậu Cần, Kỹ thuật. Tháng 8 năm 1978, Sư đoàn 337 được giao nhiệm vụ làm lực lượng chủ lực cơ động ở Bắc Lào.

   Cuối năm 1978, Thiếu tá, Trung đoàn phó Lương Hữu Phùng đang công tác ở Lào thì được điều về làm Trung đoàn trưởng, Trung đoàn 4 - Sư 337. Tháng 11 năm 1978, Trung đoàn về Đô Lương (Nghệ An) lấy quân bổ sung và huấn luyện được ba tháng. Mọi kế hoạch đều tập trung chuẩn bị cho nhiệm vụ ở Lào thì ngày 18 tháng 2 năm 1979, Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 337 ra biên giới phía Bắc làm niệm vụ. Sáng ngày 19 tháng 2, Sư đoàn trưởng Đỗ Phú Vàng, Trung đoàn trưởng Lương Hữu Phùng, một đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 52 và trinh sát được đưa ra sân bay Kép (tỉnh Hà Bắc) bằng máy bay lên thẳng. Chiều cùng ngày, 2000 bộ đội hành quân bằng tàu hỏa, ô tô với tinh thần thần tốc của Hoàng đế Quang Trung. Thời điểm này, các lực lượng của ta đang tập trung cho chiến trường Campuchia nên mọi thứ trang bị còn đang rất thiếu thốn, từ quân trang, quân dụng cho đến vũ khí, khí tài vẫn còn hạn chế. Quân số Trung đoàn 4 thì đang chia sẻ sang mặt trận Lào nên Tư lệnh Quân đoàn 5 Hoàng Đan đã đề ra phương châm: “vừa hành quân vừa xếp hàng”.

  Sư đoàn 337 được giao nhiệm vụ lập tuyến phòng ngự trên đường 1B. Đường 1B là con đường độc đạo từ thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về Thái Nguyên, nối với đường số 3 về Hà Nội. Trước khi Sư đoàn 337 đến, trên đã điều Trung đoàn bộ binh 197, bộ đội địa phương tỉnh Bắc Thái lập tuyến phòng ngự ở phía bắc Sông Kỳ Cùng nhưng đã bị đối phương vượt qua do lực lượng địch đông Trung đoàn 4 đang triển khai lực lượng phòng thủ dọc tuyến đường 30 ở Đồi Ngô (Lục Ngạn - Bắc Ninh) thì ngày 23/2 thì được điều về khu vực cầu Khánh Khê (Văn Quang - Lạng Sơn).

           Sơ đồ hệ thống phòng ngự Trung đoàn 4 dọc đường 1B,

                theo trí nhớ của Đại tá Lương Hữu Phùng

Upload

    Trung đoàn 337 ngày gặp lại   (Ảnh: Nguồn báo Nghệ An)

10 giờ ngày 25 tháng 2, đồng chí Đỗ Phú Vàng - Sư đoàn trưởng, thay mặt Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn, phê duyệt kế hoạch phòng thủ của Trung đoàn 4. Theo kế hoạch, Tiểu đoàn 3, do đồng chí Trần Xuân Hòa làm Tiểu đoàn trưởng, đảm nhận nhiệm vụ hướng chính trên tuyến đường 1B. Tiểu đoàn 1, do đồng chí Nguyễn Xuân Hồng làm Tiểu đoàn trưởng, phòng ngự ở dãy cao điểm 649; 655 đến bản Chúc (đây là hướng phòng ngự thứ yếu của ta). Tiểu đoàn 2 đóng ở Chu Túc làm lực lượng dự bị. Sở chỉ huy tiền phương do Tham mưu trưởng Hồ Trọng Long chỉ huy, Sở chỉ huy trung đoàn đóng ở Phai Xa do đồng chí Lương Hữu Phùng, Trung đoàn trưởng chỉ huy. Cánh trái Trung đoàn 4 là Trung đoàn 52, cánh phải là Trung đoàn 197, phía sau là Trung đoàn 92 cùng với lực lượng dân quân, dân công và Trung đoàn pháo binh 108. Ngoài ra trung đoàn sẽ được chi viện hỏa lực của Sư đoàn pháo binh 166, thuộc Quân đoàn 5.

    Sáng 25/2, một toán trinh sát của địch qua sông đến khu vực cầu Khánh Khê thì bị bị lực lượng cảnh giới của Đại đội 10 - Tiểu đoàn 3, tiêu diệt 2 tên. Cùng ngày, địch đổ quân với số lượng lớn đánh chiếm các điểm cao có lợi cho tổ chức phòng ngự lâm thời. Suốt tối ngày 25, địch dùng hỏa lực gồm: cối, hỏa tiễn H12 và pháo tầm xa ngăn ta vượt sông Kỳ Cùng. Trên các điểm cao, chúng tổ chức trinh sát vũ trang (bắn thăm dò) vào các tuyến phòng ngự của ta. Nắm bắt được ý đồ của địch, ta chưa bộc lộ lực lượng, bí mật củng cố trận địa.

    Các ngày 27 - 28 tháng 2 đối phương tấn công mạnh vào vào vị trí phòng ngự của Tiểu đoàn 3. Đồng chí trần Xuân Hòa, Tiểu đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy, đưa lực lượng vòng phía sau đánh vu hồi buộc chúng phải ngừng tấn công. Theo hướng phòng ngự của Tiểu đoàn 3, tại khu vực cầu Khánh Khê, địch có một trung đoàn với sự yểm trợ của pháo binh. Phía ta, Tiểu đoàn 3 được tăng cường một trung đội cối 82 mm, một trung đội pháo của sư đoàn chi viện. Từ điểm cao 649, địch sử dụng 3 tiểu đoàn bộ binh liên tiếp tấn công hòng chiếm cầu Khánh Khê để từ đó chọc thủng tuyến phòng ngự của ta.

    Trong ngày 28, địch giã pháo và hỏa tiễn vào điểm cao 649, toàn hướng phòng ngự của Tiểu đoàn 3 chìm trong hỏa lực của của địch, Sở chỉ huy tiểu đoàn trúng hỏa tiễn, đồng chí Hồ Trọng Long - Tham mưu trưởng trung đoàn, đồng chí Trần Xuân Hòa - Tiểu đoàn trưởng và nhiều đồng chí khác đã hy sinh. Hỏa lực đối phương dần chiếm vào trung tâm tuyến phòng ngự tiểu đoàn. Địch cậy quân số đông đã tràn vào trận địa của Đại đội 11 do đồng chí Trần Minh Lệ làm đại đội trưởng. Các chiến sĩ ta đã kiên cường chiến đấu đẩy lùi 14 đợt tấn công của địch. Sau mỗi tổn thất thì lực lượng địch được bổ sung ngay, trong khi lực lượng ta mỏng, thương vong dần, thiếu súng đạn và hỏa lực yếu. Đồng chí Trần Minh Lệ nhiều lần bị thương nhưng vẫn bám trận địa chỉ huy anh em chiến đấu. Khi  biết không còn khả năng bám trụ, đồng chí tổ chức cho anh em đưa thương binh, liệt sĩ về phía sau, một mình ở lại chiến đấu cho tới khi hết đạn. Bị địch bao vây, đồng chí Trần Minh Lệ đã giật quả lựu đạn cuối cùng tiêu diệt 3 tên và anh dũng hy sinh.

     Từ ngày 3 tháng 3 về sau, đối phương giảm dần sức tấn công, ngày 5 tháng 3 đối phương cắm các tấm biển dọc đường, thông báo sẽ rút quân trên toàn tuyến biên giới, đề nghị quân đội Việt Nam không “quấy rối”. Nhưng trên thực tế quân Trung Quốc vẫn chưa rút. Chính vì vậy, đêm mùng 8 tháng 3, Đại đội 5 do Thiếu tá - Tiểu đoàn phó Nguyễn Hùng Tấn chỉ huy đã tấn công Pa Pách. Sau khi pháo bắn dọn đường thì bộ đội xung phong. Do chủ quan, nghĩ là địch đã rút nên không tổ chức trinh sát nên ta không chiếm được mục tiêu, thương vong khá nhiều. Nhưng cũng trong đêm đó địch đã bỏ Pa Pách và điểm cao 559. Không thể chiếm được cầu Khánh Khê, địch dùng mìn phá hủy rồi lui về lập tuyến phòng ngự lâm thời.

    Theo hướng phòng ngự của Tiểu đoàn 1 (khu vực bản Chúc, cánh trái của trung đoàn): Chiều 24/2, tiểu đoàn triển khai lực lượng chiến đấu. Khu vực phòng thủ của tiểu đoàn bao gồm bản Chúc, bờ bắc, bờ Nam sông Kỳ Cùng, Phai Cam và Na Pha (sở chỉ huy và hỏa lực đặt ở điểm cao Na Pha). Sau khi bị ta chặn đánh ở hướng chính là cầu Khánh Khê và điểm cao 649, đối phương đã chuyển hướng sang Nhạc Kỳ hòng thọc sâu đánh tạt sườn ta. 9 giờ sáng ngày 1/3, một tiểu đoàn địch tấn công vào trận địa ta. Sau khoảng 15 phút khai hỏa, bộ binh địch tấn công vào hướng của Đại đội 2, chiến sĩ ta đã chặn đánh 9 đợt tấn công của địch, buộc chúng phải lui về Khâu Xá để củng cố trận địa. Nhận thấy tình hình có lợi, chỉ huy trung đoàn lên kế hoạch đưa Tiểu đoàn 2 đánh vào Khâu Xá; nhưng khi sương tan, trinh sát phát hiện có lều bạt nên biết đó là sở chỉ huy cấp trung đoàn, nếu đưa một tiểu đoàn tập kích sẽ không chắc thắng, kế hoạch bị hủy bỏ. Ngày 3/3 Hỏa lực đối phương bắn xối xả vào hướng phòng ngự của Đại đội 2, sau đó bộ binh địch tấn công theo chiến thuật cũ, đi hàng dọc, hình mũi tên, đầu nhọn đuôi dài, tấn công dai dẳng, nhiều đợt nhưng đều bị ta đánh bật ra. Đối phương lợi dụng địa hình mấp mô với nhiều cây thấp, bờ đốc để áp sát tiền duyên phòng ngự của ta nhưng ta đã cảnh giác và đẩy lùi quân địch. Đại đội trưởng Hà Đăng Ninh nhận thấy địch sơ hở bên sườn đã đề nghị tiểu đoàn tăng cường lực lượng đánh vu hồi. Đại đội 2 và một trung đội tăng cường đánh vào điểm yếu bên sườn của địch sau đó bộ binh ta xung phong, hai mũi tấn công khép vòng vây, địch không kịp trở tay, đội hình hỗn loạn và bị tiêu diệt rất nhiều. Ta bắt sống được một sỹ quan, thu một bản đồ tác chiến. Nghiên cứu bản đồ và khai thác tù binh, ta nhận thấy ý đồ của địch là vượt cầu Khánh Khê, theo đường 279 tiến về Đồng Mô hòng bao vây hốt gọn Sư đoàn 3 – bộ binh, của ta. Đến ngày 4/3, địch ngừng tấn công và rút quân. Các mũi tấn công của ta truy kích địch đến đồng Đăng.

    Trưa ngày 11 tháng 3, Trung đoàn 4 đã triển khai chiếm lĩnh các điểm cao xung quanh thị trấn, chiếm pháo đài, nhà ga và các tuyến đường chính, trung đoàn được tăng cường hỏa lực mạnh để phòng ngự lâu dài dọc biên giới tỉnh Lạng Sơn.

   Đại tá Lương Hữu Phùng, nguyên Tham mưu trưởng, Sư đoàn phó Sư đoàn 377, xúc động nói: “Đó là những năm tháng tôi cùng anh em, đồng đội nếm mật nằm gai bảo vệ biên cương tổ quốc. Chúng ta đã lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh vì chính nghĩa thuộc về chúng ta. Không thể để một tấc đất quê hương rơi vào tay giặc”.

 

Đất và người xứ Nghệ khác:
Thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông (19/9/2018)
Giá trị lịch sử di sản Hán Nôm họ Nguyễn Đăng, xã Hưng Yên Bắc, huyện Hưng Nguyên (12/9/2018)
Trung đoàn 4, Sư đoàn 337 trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979 (12/9/2018)
Tục cúng rẫy của người Khơ Mú (11/9/2018)
Tiến sĩ Đinh Văn Chất trong phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (6/9/2018)
Hang động đầy thạch nhũ lấp lánh ánh vàng ở miền Tây Nghệ An (15/8/2018)
Trai làng Nha Môn (8/8/2018)
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
GS. Phan Huy Lê: chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam (26/6/2018)
Những bức ảnh đẹp về Bác Hồ (30/5/2018)
Để phát huy tiềm năng lợi thế Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An (21/5/2018)
Đền thờ Đức Hoàng Mười ở xứ Nghệ vấn đề văn hóa tâm linh (17/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,180 | Tất cả: 1,422,280
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp