KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc giảng dạy triết học Mác -Lênin tại Trường đại học Kinh tế Nghệ An hiện nay
Tin đăng ngày: 11/9/2018 - Xem: 373
 

 

Nguyễn Thị Tùng - Th. S. Hoàng Thị Thu Hoài

Trường Đại học Kinh tế Nghệ An

Trong hệ thống các môn lý luận chính trị hiện nay đang giảng dạy tại trường Đại học kinh tế Nghệ An, môn Triết học Mác - Lênin giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp thế giới quan, phương pháp luận cho sinh viên trong việc nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan.

Một trong những đặc trưng của tri thức Triết học là tính khái quát hóa, trừu tượng hóa, nhưng không xa rời với thực tiễn. Do đó, nhận thức triết học là giúp người học hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Nhưng trên thực tế giảng dạy môn Triết học Mác - Lênin hiện nay đang đặt ra một số vấn đề xuất phát từ chính người dạy và người học. Phương pháp giảng dạy của các giảng viên đã có sự đổi mới, nhưng kết quả không cao, trong lúc lượng tri thức lý luận cung cấp cho sinh viên quá lớn, nhiều lúc chỉ đơn thuần giảng về mặt khái niệm mà không liên hệ thực tiễn. Điều đó, làm cho sinh viên thấy học tập môn Triết học Mác - Lênin khô khan, khó hiểu, xa rời thực tiễn. Để khắc phục tình trạng này, trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi người giảng viên phải quán triệt, vận dụng một cách sáng tạo quan điểm lịch sử - cụ thể để giúp sinh viên dễ tiếp thu tri thức Triết học.

Trong Lời nói đầu góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác đã có sự giải thích hết sức sâu sắc về mối quan hệ giữa cái cụ thể với cái trừu tượng cũng như sự cần thiết phải quán triệt và vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể trong nhận thức khoa học. Ông viết: “Cái cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy định, do đó, nó là sự thống nhất của cái đa dạng. Cho nên trong tư duy, nó biểu hiện ra là một quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm xuất phát của trực quan và của biểu tượng”[1]

Qua thực tế giảng dạy Triết học, chúng tôi thấy rằng: Một là, đa phần sinh viên vẫn còn ngại học môn Triết học vì cho rằng nó khô khan, nhàm chán, trừu tượng, khó hiểu, hàn lâm và không bám sát thực tế. Triết học bàn đến những vấn đề thuộc về thế giới quan, bản thể luận - những tri thức vẫn còn xa lạ với sinh viên. Hai là, số ít sinh viên quan tâm thì chủ yếu là do hiếu kỳ trước những sự kiện mang tính chất tiệu cực hay chỉ quan tâm đến điểm số hoặc học cho xong nội dung chương trình môn học. Miễn sao sau khi kết thúc môn học không phải thi lại là cảm thấy thỏa mãn. Ba là, có xu hướng nghe ngóng từ những sai lầm, hạn chế mắc phải trong quá trình lãnh đạo của Đảng, mà ít đi vào tìm hiểu nguyên nhân mà thực tiễn đã xảy ra. Bốn là, các bài học, ý nghĩa thực tiễn và lý luận được tổng kết, đúc rút lại ít được chú ý, ghi nhớ và vận dụng vào hoạt động nhận thức và thực tiễn của sinh viên. Năm là, do tính chất nhiều sinh viên vừa đi làm thêm, vừa đi học nên đôi lúc còn  tranh thủ việc riêng; chính vì vậy chưa thực sự đầu tư nghiên cứu học tập và đề xuất các giải pháp cho nội dung mà bản thân đang theo học để mang lại hiệu quả cao hơn.

          Nguyên nhân của những thực trạng nói trên có thể có nhiều. Trong đó theo chúng tôi có mấy nguyên nhân chính sau đây: Một, chúng ta cần phải nghiêm túc nhìn lại vai trò của người thầy trong quá trình giảng dạy. Điều 15, Luật Giáo dục (năm 2005) quy định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” và gần đây, tại Hội nghị Trung ương 8, Khóa XI, trong Nghị quyết Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 29-NQ/TW)

Đảng ta cũng yêu cầu phải: “Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”[2].Tuy nhiên trên thực tế, không ít giảng viên chưa thực hiện tốt vai trò người quyết định chất lượng giáo dục, cả về tinh thần trách nhiệm lẫn kiến thức chuyên môn.

Hai, hệ thống giáo trình, tài liệu tuy được sửa đổi, bổ sung nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học tập môn Triết học Mác – Lênin của  sinh viên các trường Đại học. Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng ta có đánh giá: “Hệ thống, chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều bất hợp lý, học tập lý luận còn lạc hậu”[3]

Từ những nhận thức như vậy, góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể vào giảng dạy môn Triết học Mác - Lênin ở Trường Đại học kinh tế Nghệ An, theo chúng tôi trước mắt cần phải thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, giảng viên phải tổng quan được toàn bộ nội dung bài học một cách hệ thống, vững vàng và chuyên sâu. Kiến thức giáo trình thể hiện cơ sở pháp lý mà giảng viên cung cấp cho sinh viên nhưng đó mới chỉ là kiến thức nền, phông cơ bản nên để khai thác sâu, hay, dễ nghe, dễ hiểu, vận dụng hiệu quả thì giảng viên cần đọc nhiều, đi thực tế nhiều, trao đổi thảo luận phong phú tại các diễn đàn và cần có phông kiến thức nền rộng và sâu … để cung cấp cho người học một lượng kiến thức thực tiễn mang tính khoa học,  thuyết phục và hiệu quả cao.

Thứ hai, bài giảng ở từng mục, phần, cần được phân tích, đánh giá, bóc tách để hiểu được chân lý của vấn đề đặt ra. Muốn làm được điều đó cần giảng viên phải xác định đúng trọng tâm, trọng điểm để vận dụng vấn đề.  Xác định được tính toàn diện của nội dung để quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể khi chuyển tải nội dung, chương trình.

Thứ ba, rút ra bài học kinh nghiệm nhằm quán triệt quan điểm đúng đắn, liên hệ, vận dụng lý luận với thực tiễn, đồng thời rút ra ý nghĩa của vấn đề. Để làm  được điều đó, Giảng viên phải lập kế hoạch bài giảng và phương pháp lên lớp phù hợp, vận dụng nhuần nhuyển các phương pháp dạy học tích cực theo tiếp cận phát triển năng lực; sử dụng tốt các kỷ thuật dạy học…

Thứ tư, vấn đề gắn lý luận với thực tiễn trong giảng dạy Triết học Mác – Lênin tại trường Đại học kinh tế Nghệ An cần được xác định rõ là thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các bài học, kinh nghiệm, nghệ thuật…trong giảng dạy. Thông qua vai trò, vị trí  của giảng viên, định hướng cho sinh viên vận dụng những kiến thức đã học vận dụng vào các môn học tiếp theo và vận dụng công việc của bản thân tại lớp học, địa phương mình. Từ đó xử lý các vấn đề ở đạt hiệu quả cao.

Chẳng hạn, khi giảng dạy quy luật mâu thuẫn thì giảng viên nên đưa ra một trong những vấn đề sau cho sinh viên thảo luận: tại lớp học anh, chị có những mâu thuẫn cơ bản nào? Anh, chị đã đề ra những giải pháp gì để giải quyết những vấn đề đó? Kết quả đạt được như thế nào? Từ những vấn đề đó chính bản thân các sinh viên đã học được lẫn nhau. Đồng thời giảng viên có hiểu biết sâu, rộng nhằm khẳng định tính chân lý của vấn đề. Tuy nhiên xử lý vấn đề hay thực hiện nội dung chương trình cũng cần bám vào thực tiễn để có quan điểm lịch sử - cụ thể.

Thứ năm, bằng thực tiễn khách quan, quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể để phân tích các nội dung, tính chất …tránh quan điểm phiến diện, siêu hình, chủ quan, duy ý chí. Khi quán triệt, liên hệ, vận dụng cần xác định đúng tính phổ biến, đâu là tính đặc thù, tính toàn diện. Tránh chiết trung, ngụy biện…

Chẳng hạn, giảng viên có thể căn cứ vào nội dung bài học như bài “Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến”  Cái nào thuộc về tính phổ biến thì liên hệ với cái phổ biến. Cái nào là cái đặc thù, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể thì liên hệ với cái đặc thù, cụ thể. .. tránh tình trạng “Thầy bói xem voi”; “râu ông nọ cắm cằm bà kia”.

Thứ sáu, bám sát sự vận động trong thực tiễn xây dựng mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Nhận thức đúng về những quy luật khách quan của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực xây dựng dựa trên các quy luật kinh tế thị trường cơ bản (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ), nhưng đồng thời phải đảm được sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đây là quy luật nền tảng đối bất cứ một nền kinh tế nào, đặc biệt ở Việt Nam đang định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường”3

Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin luôn đề cập đến mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, coi đây là quy luật tất yếu trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. Khi xem xét quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác - Lênin thường đề cập đến những hạn chế, khuyết điểm của quan hệ sản xuất dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là quá nhấn mạnh yếu tố lợi ích. Thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, đảm bảo sự phát triển dân chủ, công bằng trong xã hội. Như vậy thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp là quan hệ sản xuất tiến bộ, là sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lưc lượng sản xuất, là sự khác biệt về chất so với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Giảng dạy Triết học Mác - Lênin, chúng ta nhấn mạnh quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được hiểu: Quan hệ sản xuất là hình thức phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất, có nghĩa các yếu tố cấu thành của quan hệ sản xuất tạo địa bàn đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng sản xuất phát triển, tạo điều kiện tối ưu cho việc kết hợp giữa con người với tư liệu sản xuất và khoa học kỹ thuật, làm cho lực lượng sản xuất phát triển hết khả năng của nó.

Do vậy, Đảng ta xác định là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao, hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phải từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lượng sản xuất, điều đó có nghĩa là phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Muốn hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cần phải thực hiện đồng bộ các vấn đề sau: Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường; phát triển các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường; nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Một yêu cầu tất yếu trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là các thành phần kinh tế cạnh tranh một cách bình đẳng, thành phần kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo. Các hình thức phân phối vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, vừa đáp ứng yêu cầu thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay từng bước phát triển. Quan hệ sản xuất phù hợp cũng được xác định trên cơ sở mâu thuẫn giữa xã hội tư bản chủ nghĩa (thực hiện chế độ tư hữu) và xã hội xã hội chủ nghĩa (thực hiện chế độ công hữu là chủ yếu), đây là hai mặt đối lập về cách nhìn nhận, quan điểm sử dụng công cụ “công hữu” và “tư hữu”. Quá trình xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế thì cần phải học tập kinh nghiệm của các nước để giải quyết hài hòa hai mặt đối lập giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời thực hiện nhận thức và hành động theo tư tưởng Hồ Chí Minh: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm nước lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại. Vì vậy, song song với việc nhấn mạnh sự quan trọng của học tập lý luận, chúng ta phải luôn luôn nhấn mạnh nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế”4.

Thứ bảy, xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Giảng dạy môn triết học Mác - Lênin chúng ta cần phải làm rõ tinh thần xây dựng con người Việt Nam ở Đại hội XII của Đảng là phát triển con người toàn diện. Con người luôn là chủ thể của các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, đồng thời luôn làm cho các hoạt động đó phát triển để đáp ứng nhu cầu phát triển của con người và xã hội. Trong quá trình công nghiệp hóa, các hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển theo đúng xu thế vận động của lịch sử, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng lớn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người. Chính vì vây, đòi hỏi hoạt động của con người phải có sự phát triển tương ứng, phải không ngừng hoàn thiện mình về mọi mặt, cả số lượng lẫn chất lượng - nhất là chất lượng.

          Liên hệ thực tiễn để sinh viên thấy được, sự vươn lên phát triển mạnh mẽ của một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo hay Đài Loan đã cho thấy các điều kiện tư nhiên không phải là nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình phát triển. Bởi vì các quốc gia đó đều có diện tích nhỏ, mật độ dân số cao, tài nguyên thiên nhiên nghèo (ít về chủng loại và nhỏ về trữ lượng), thậm chí có nước (như Nhật Bản, sau đại chiến thế giới thứ hai) xuất phát điểm để phát triển kinh tế thấp, vốn đầu tư thiếu, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, nhưng do họ biết phát huy nguồn lực con người, biết khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của con người; đặc biệt là biết khơi dậy truyền thống dân tộc, văn hóa dân tộc với mục tiêu: Làm cho nước Nhật trở thành một trong những quốc gia bậc nhất thế giới.

          Để đưa đất nước phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới, Đại hội lần thứ XII của Đảng đã xác định xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện cùng tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực với mục tiêu: “Phấn đấu những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”3. Để đảm bảo được mục tiêu đó, các giảng viên giảng dạy môn triết học Mác - Lênin, cần phải giúp sinh viên nhìn nhận, trong bối cảnh hiện nay, để có được niềm tin chính trị làm động lực thúc đẩy hoạt động học tập và làm việc của mình thì cần phải không ngừng củng cố sự hiểu biết đúng đắn, nâng cao khả năng làm chủ, phát triển về mặt thể chất, tạo lập và củng cố tư duy khoa học. Nó định hướng giá trị cho học viên về cuộc sống hôm nay: Có kiến thức, có bằng cấp, có việc làm, sống có mục đích. Từ đó sinh viên vừa quan tâm đến lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình và làm giàu chân chính, đồng thời coi trọng lợi ích chung của cộng đồng, đất nước. Học tập, rèn luyện để có kiến thức, kỹ năng tốt, là để lập thân, lập nghiệp, làm giàu cho mình, gia đình và cống hiến cho xã hội, vì một đất nước phồn vinh, thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu.

        Trong bối cảnh hiện nay, để có được niềm tin chính trị làm động lực thúc đẩy hoạt động học tập và làm việc của người học thì cần phải không ngừng củng cố sự hiểu biết đúng đắn, nâng cao khả năng làm chủ, phát triển về mặt thể chất, tạo lập và củng cố tư duy khoa học. Để làm được như vậy, phải tăng cường trang bị lập trường thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cho người học. Thông qua giáo dục lập trường chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp biện chứng giúp và cần có quan điểm lịch sử cụ thể cho sinh viên để họ thoát khỏi sự ảo tưởng, chờ đợi vào cuộc sống tốt đẹp do toàn cầu hóa và kinh tế thị trường mang lại. Giúp sinh viên nhận thức và cải tạo cuộc sống bằng trí tuệ, niềm tin và tình cảm lành mạnh để đạt được mục tiêu của bản thân và hành động vì mục tiêu của đất nước.

 

Chú thích

(1). C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1993, tập 12, tr.877

(2). (Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Ban-hanh-Nghi-quyet-ve-doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-duc/184826.vgp)

(3). Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2016, tr. tr.102-103.193. 115. 126, 127

(4). Hồ Chí Minh (2002), toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.499.

 

Tài liệu tham khảo

1.Đại học quốc gia Hà Nội – Trường đại học giáo dục:  Phương pháp dạy học đại học theo tiếp cận pháp triển năng lực, H 2016

  1. Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Nxb Chính trị quốc gia, H 2016
  2. Hồ Chí Minh (2002), toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2016

  1. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1993, tập 12,
  2. Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Tin-noi-bat/Ban-hanh-Nghi-quyet-ve-doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-duc/184826.vgp

 

 

 

 

 

 

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Ngô Thì Nhậm, người kế tục xứng đáng truyền thống văn chính luận Việt Nam trung đại (14/11/2018)
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia (9/11/2018)
Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng của Karl Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay (9/11/2018)
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc giảng dạy triết học Mác -Lênin tại Trường đại học Kinh tế Nghệ An hiện nay (11/9/2018)
Quan điểm của Xuân Diệu trước 1945 về tính dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại của văn học Việt Nam (10/9/2018)
Những người phụ nữ đi đầu trong “Tuần lễ vàng” (6/9/2018)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức trong - Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp (31/8/2018)
Lịch sử một dân tộc “dễ bị tổn thương” (31/8/2018)
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về Khoa học và công nghệ trong giai đoạn phát triển mới (28/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,611 | Tất cả: 1,508,671
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp