KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Quan điểm của Xuân Diệu trước 1945 về tính dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại của văn học Việt Nam
Tin đăng ngày: 10/9/2018 - Xem: 52
 

- Lê Văn Tùng -

 1. Bây giờ thì câu chuyện hội nhập nhân loại một cách toàn diện của nước ta đã được ý thức như một tất yếu lịch sử, cho dù xu hướng, phạm vi, mức độ hội nhập còn có sự khác nhau giữa các thế hệ, tầng lớp xã hội, địa bàn cư trú... của người Việt. Nhưng cũng câu chuyện này, hồi trước 1945, khi đất nước chưa được độc lập thì vấn đề phức tạp hơn nhiều - thậm chí cho đến trước 1975, trước 1986 vẫn còn là chuyện "nhạy cảm" phức tạp. Trước 1945, những ý kiến, quan niệm nào biểu thị khát vọng hội nhập nhân loại để đổi mới, mà rõ nhất là trong lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật đều đứng trước hai áp lực: Một là, truyền thống văn hóa ngàn năm, ngoài các giá trị dân tộc, còn có truyền thống văn chương chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Trung Quốc với quán tính vẫn rất mạnh. Hai là, yêu cầu đấu tranh đòi độc lập dưới sự dẫn đạo của cuộc cách mạng ý thức hệ. Vượt được áp lực thứ nhất, hòa hợp không đối kháng với áp lực thứ hai, Xuân Diệu trước 1945 đã phát vào tương lai thông điệp đúng đắn của mình về hội nhập nhân loại và tính dân tộc của văn học Việt Nam.

Quan niệm của một nghệ sĩ về thế giới trước hết biểu hiện sinh động trong thế giới hình tượng, sản phẩm văn hóa kết tinh từ tư duy nghệ thuật của anh ta. Ở nhiều nghệ sĩ, quan niệm đó còn được trình bày sâu sắc trong tư duy suy lý thông qua các văn bản nghiên cứu, bình luận, phê bình văn học nghệ thuật.

Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 bắt đầu hình thành giới nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp, đồng thời cũng xuất hiện phổ biến trường hợp các nhà sáng tác tham gia viết nghiên cứu phê bình văn học. Đó là hiện tượng dễ hiểu của buổi giao thời và bước đầu xây dựng nền văn học mới - hiện đại, thay thế nền văn học Việt theo truyền thống Á Đông hàng nghìn năm. Các nhà sáng tác vừa có nhu cầu giải thích những sáng tạo mới mẻ của mình trước sự "công kích" của giới bảo thủ trong văn hóa, văn học, vừa muốn trình bày và tìm niềm đồng cảm của công chúng đối với những quan niệm cấp tiến trong nghệ thuật, mong hướng tới xây dựng một nền văn học vừa hiện đại vừa sâu sắc tính dân tộc. Vì vậy, Xuân Diệu không phải là trường hợp nhà sáng tác viết bình luận, phê bình hiếm có của văn học trước 1945. Trước và sau nhà thơ còn nhiều thi sĩ và văn sĩ khác. Tuy nhiên, theo chúng tôi Xuân Diệu là trường hợp đặc biệt, chí ít là trong quan niệm của nhà thơ về quan hệ giữa bản sắc dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại của văn học Việt Nam. Chúng tôi nói là "trường hợp đặc biệt", bởi vì ở lĩnh vực sáng tác, Xuân Diệu là tác giả cấp tiến nhất của phong trào Thơ Mới, nên cũng thuộc số ít tác giả cấp tiến nhất của văn học Việt Nam 1932 - 1945. Hoài Thanh trong "Thi nhân Việt Nam" đã dùng nhiều cách diễn đạt để nói cái tính "nhất" điển hình ấy của Xuân Diệu: "Ảnh hưởng Pháp trong thơ Việt đến Xuân Diệu là cực điểm"(1). "Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân"... "những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu"... "thơ Xuân Diệu còn là nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này"... "Xuân Diệu đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả những rung động tinh vi"... "Chỉ Xuân Diệu mới để ý đến..." "Chỉ Xuân Diệu mới thấy..." "Chỉ Xuân Diệu mới có..." "Chỉ Xuân Diệu mới tìm được...", và cuối cùng "Xuân Diệu mới nhất trong các nhà Thơ Mới". Những cái "nhất", cái "điển hình" ấy trong sáng tác của Xuân Diệu hồi bấy giờ hiển nhiên dẫn đến hiện tượng: "tiếng khen chê vẫn chưa ngớt. Người khen, khen hết sức; người chê, chê không tiếc lời"(2) (từ ngữ in đậm do chúng tôi nhấn mạnh - L.V.T). Trong hoàn cảnh đó, Xuân Diệu cần viết những bài phê bình, bình luận nhằm trình bày, giải minh quan niệm của mình bằng tư duy suy lý để công chúng rõ hơn và cũng để xác định một cách hiểu đúng quan hệ giữa bản sắc dân tộc và hội nhập nhân loại cho thời bấy giờ và cho cả tương lai của văn học nước nhà.

Hiện tượng Xuân Diệu và các hiện tượng tương tự cùng thời không phải là loại hiện tượng ngẫu hứng hoặc là tập theo, là vọng ngoại một cách máy móc. Đó là một hiện tượng lịch sử, sản phẩm tất yếu, khách quan của tiến trình lịch sử được ý thức qua nhân cách và năng lực văn hóa của cá nhân. Trong văn học Trung đại (thế kỷ XIX về trước) nhiều nhà văn viết bình luận văn chương theo một mô hình nghệ thuật đã được định hình kiên cố, theo một chuẩn thẩm mỹ tiền định và khép kín, ít có cái nhìn, cách nhìn vượt cõi để làm cuộc "cách mạng văn chương", mặc dù mấy thế hệ nhà văn một hai thế kỷ trước thế kỷ XX từng có tiếp xúc với văn minh, văn hóa phương Tây và cũng đã có những sáng tạo thăm dò, thử nghiệm cho một lối viết mới, một cách thể hiện mới có hơi hướng nghệ thuật hiện đại (...). Thế kỷ XX ở Việt Nam bắt đầu với một "nền học mới" theo xu hướng văn minh, khoa học hóa của Tây Phương và dần dần nó "lấn sân" nền học cũ Á Đông ở xứ này. Cuộc "cải cách giáo dục" ấy đã tạo ra một kiểu trí thức mới cho người Việt - trí thức Tây học - sản phẩm khách quan của công cuộc thực dân, mở mang thị trường và khai phóng văn minh đến các xứ sở còn lạc hậu và bị bao vây bởi các truyền thống xưa cũ của trái đất. Cùng với "tân thư" và các sách báo tiến bộ, cách mạng từ phương Tây bí mật vào Việt Nam, nền học mới đã góp phần tạo ra thời kỳ "phương Đông thức tỉnh", "châu Á vươn mình" kể từ đầu thế kỉ XX. Thế là mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam, kể cả văn hóa, văn học nghệ thuật đã bước vào quỹ đạo hội nhập nhân loại, cho dù dưới phương thức, tính chất và mức độ nào.

Quan niệm của Xuân Diệu và thế hệ ông về quan hệ giữa bản sắc văn hóa dân tộc và hội nhập nhân loại chính là "sản phẩm" văn hóa của tiến trình lịch sử đó.

2. Xuân Diệu thuộc thế hệ thứ hai, nhưng là thế hệ đưa Thơ Mới đến đỉnh cao rực rỡ nhất trong thời kỳ 1936 - 1939. Năm 1939 cũng ghi nhận tập trung nhất thành tựu của ông trên lĩnh vực lý luận, phê bình văn học. Năm bài báo tiêu biểu của ông đều đăng trên báo Ngày nay (cơ quan của Tự lực Văn Đoàn từ 1936) trong nửa đầu năm 1939:

- Thơ khó - Số 145 ngày 14/01/1939

- Tính cách An Nam trong văn chương - Số 146 ngày 28/01/1939

- Mở rộng văn chương - Số 148 ngày 04/02/1939

- Thơ Huy Cận - Số 151 ngày 04/03/1939

- Công của thi sĩ Tản Đà - Số 166 ngày 17/06/1939

Cả năm bài báo đều có những ý kiến bàn trực tiếp hoặc liên quan đến vấn đề bản sắc dân tộc và hội nhập văn hóa, văn học nhân loại. Trong đó, bài tập trung bàn về chủ đề này là "Tính cách An Nam trong văn chương". Sau đó đến bài "Mở rộng văn chương". Ba bài kia là sự cụ thể hóa một số khía cạnh của vấn đề trong những phạm vi và chừng mực khác nhau. (Các phân tích sau đây chủ yếu từ bài "Tính cách An Nam trong văn chương", ý kiến từ các bài khác sẽ được ghi chú rõ tên bài).

Theo quan niệm của Xuân Diệu, ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây hiện đại mà trực tiếp là văn học Pháp không loại trừ, không đào thải bản sắc dân tộc và truyền thống Á Đông trong văn học Việt: "Dù có Âu hóa mấy đi nữa, cái đặc biệt của giống nòi vẫn còn ở trong máu, trong từng thớ thịt, từng miếng da. Văn chương Việt Nam cũng vậy". Quan niệm này có ý nghĩa điều chỉnh cái thuyết "tính cách An Nam" cực đoan và cố chấp của không ít người theo phái thủ cựu thời đó. Theo ông, "Văn chương An Nam phải có tính cách An Nam" là một "cái thuyết đẹp đẽ" nhưng chỉ vì "một chút cố chấp, một chút hủ lậu" nó sẽ "thành ra một thuyết chật hẹp, nông nổi". Cái bảo thủ, cố chấp ấy mặc dù Xuân Diệu không chỉ rõ là hậu quả của "xâm lăng văn hóa" từ phương Bắc nghìn năm trước một cách cụ thể, nhưng chúng ta nhận thức được ý nghĩa này từ cách diễn đạt của ông. Mặt khác, trong khi nhận thức được cuộc tiếp giao văn hóa với Tây phương như là quy luật tất yếu của văn học hiện đại, ông cũng không hề có thái độ đề cao phương Tây một chiều. Theo ông, việc tiếp nhận ảnh hưởng "văn Tàu""văn Tây" vào văn học Việt Nam ở hai thời đại khác nhau vẫn có những biểu hiện tiêu cực giống nhau. Đó là "sự nô lệ trong văn chương" sự bắt chước "ngô nghê", "lố lăng", "dung túng cho một lối văn sống sượng", chẳng hạn như lối làm thơ Đường luật bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Việt xen tiếng Pháp (...). Nhưng "văn chương cũng có một luật đào thải tự nhiên", những gì phản lại bản sắc dân tộc tất phải tiêu diệt, như "những cỏ dại không hợp thủy thổ sẽ chết ngay từ khi gieo giống". Do đó, ông kêu gọi và chỉ dẫn cho mọi người "không cần phải lo văn chương Việt Nam mặc cái bệnh "làm Tây".

Tuy vậy, cống hiến của Xuân Diệu cho văn hóa, văn học thời đó và cả nhiều thập kỷ sau này khi bàn về việc giữ gìn bản sắc dân tộc chính là quan niệm "giữ gìn không phải là đành tâm mến yêu một cảnh đói nghèo". Ý kiến này của ông gợi cho ta suy nghĩ về biến chuyển của tâm lý dân tộc từ đầu thế kỷ XX đến thời Xuân Diệu tham dự vào tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Trên đại thể, đó là lúc con người Việt Nam đang thực hiện một cuộc dịch chuyển hệ tâm lý dân tộc. Hệ tâm lý dân tộc phong kiến Á Đông trên nền tảng sản xuất tiểu nông với cơ chế kinh tế khép kín, bế quan tỏa cảng, dưới một thể chế chính trị độc tài dẫn độ cho một quan niệm nhân sinh tự huyễn hoặc, đầy tính tự phụ không tưởng: "nội hạ ngoại di" (ta là hoa hạ văn minh, bên ngoài là man di mọi rợ). Quan niệm này suốt bao nhiêu thế kỷ, nhất là đến thế kỉ XIX dưới triều đại nhà Nguyễn vẫn là một áp lực cứng rắn, cự tuyệt duy tân "trói buộc con người Việt Nam trong bao nhiêu lâu, hồn thơ ngạt giữa gông cùm, trái tim bị đè không dám đập, cuộc sống thu chật lại giữa khuôn phép bất nhân" (Công của thi sĩ Tản Đà). Đến đầu thế kỷ XX, chân trời trước mặt được khơi mở, một tâm lý mới nảy sinh mà theo Xuân Diệu, kiểu tâm lý này xuất hiện "lần đầu tiên" ở Tản Đà thi sĩ: "dám vẩn vơ, dám mơ mộng, dám cho trái tim và linh hồn được có quyền sống cái đời riêng của chúng..." (Công của thi sĩ Tản Đà).

Tư tưởng "nội hạ ngoại di" cực đoan, được Xuân Diệu giải tỏa trong cách nhìn đúng đắn: người Âu Tây cũng là người. "Trừ những điều riêng tây quá, chứ cái "kho", cái "đáy", cái "vốn" của con người đâu đâu cũng giống nhau". Do đó, người Việt Nam ta "vẫn có phần nhiều những ý, những tình, những cảm giác mà người Tây có, xưa kia ta không nói vì ta không ngờ", hoặc ta không được nói hay ta không biết nói. Bây giờ, khoa học của Âu Tây đã cho chúng ta sự tinh vi, kĩ lưỡng để khai thác "những của cải chôn giấu trong lòng thì sao ta không nói", kể cả nói những "cái phức tạp" mới mẻ trong lòng chúng ta mà các cụ xưa không có. Ý tưởng này, một lần nữa được Xuân Diệu nhấn mạnh trong bài "Thơ Huy Cận". Ông nói về con người thơ Huy Cận với "nghĩa là cả con người, con người phức tạp của muôn thủa". Con người ấy có một "tâm hồn đặc biệt quá, nóng chảy bên trong, e lệ bên ngoài"... "vừa mạnh vừa yếu, rất mới và rất xưa, rất Âu Tây và rất Á Đông"... Nghĩa là muốn giữ gìn bản sắc dân tộc không có nghĩa là chỉ giản dị, đơn sơ như thời trung cổ.

3. Những ý kiến của Xuân Diệu về bản sắc dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại trong văn chương cách nay gần 80 năm vẫn còn có ý nghĩa sâu sắc với thời đại chúng ta, khi mà xu hướng hội nhập nhân loại ngày càng khẩn trương và mạnh mẽ. Người ta nói về một "thế giới phẳng", về một thế giới mai này có thể chung một đồng tiền, kể cả các thể chế chính trị cũng xích lại gần nhau hơn v.v..

Quan niệm của Xuân Diệu nhắc ta sự tỉnh táo cần thiết trong hội nhập nhân loại về phương diện văn hóa, đặc biệt là văn hóa của văn học nghệ thuật. Văn học nghệ thuật của nhân loại ngày nay đang hướng tới một chủ nghĩa nhân bản khoan dung và hòa hợp. Nó chỉ có thể là giá trị văn hóa của loài người khi nó không phải là một "chủ nghĩa nhân bản khép kín". Nó "không ngụ ý giới hạn con người vào bất cứ công trình nào" mà con người đã và đang thực hiện. Theo cách nhìn của Xuân Diệu ngay từ thời đó, có thể thấy sức sáng tạo của con người là vô cùng vô hạn. Bởi thế, cái lý tưởng về một xã hội duy nhất, được diễn đạt bằng một văn hóa duy nhất là một khát vọng tuy cảm động nhưng cũng rất không tưởng. Tính duy nhất, độc nhất của văn hóa đồng nghĩa với sự tiêu vong của văn hóa nhân loại. Văn hóa chỉ thực sự là văn hóa trong quá trình thế giới hội nhập chính là ở sự phong phú, đa dạng, phức hợp của nhiều bản sắc của các cộng đồng người cùng tồn tại và ngày càng mở rộng, khắc sâu các giá trị tinh hoa đặc thù của chúng.

Trong xu hướng hội nhập nhân loại của văn học nghệ thuật đương đại, vẫn ghi nhận các yếu tố tích cực và cả tiêu cực như thời Xuân Diệu tám mươi năm trước. Thậm chí, sự bắt chước lố lăng, ngô nghê, sống sượng, bây giờ có khi còn dễ thấy hơn trước. "Cái tầm thường, cái lố lăng chẳng phải của riêng thời nào"(3). Nhưng xu hướng lấn át là các nền văn hóa của nhân loại xích lại gần nhau trong khát vọng hòa hợp, làm đứt tung những xiềng xích trói buộc, cô lập văn hóa các dân tộc. Mọi mặc cảm văn hóa sẽ bị xóa bỏ. Không có "nền văn hóa tiên tiến" đối lập với "văn hóa hậu tiến". Không có nền "văn hóa trung tâm" với các nền "văn hóa vệ tinh", văn hóa chầu rìa như thời Trung cổ. Chính nhờ vậy, giá trị đặc thù của văn hóa văn học các dân tộc mới trở thành giá trị đặc biệt của văn hóa nhân loại. Cũng chính nhờ vậy, thời hiện đại mới có cơ may "giải giáp" các mưu đồ "xâm lăng văn hóa", "áp đặt văn hóa" của dân tộc này với dân tộc khác.

Ngày nay, có thể nghĩ tới sự hội nhập nhân loại triệt để của các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Nhưng từ ý kiến của Xuân Diệu tám mươi năm trước, có thể nghĩ, riêng về văn hóa - chiến lũy cuối cùng của dân tộc, nếu hội nhập triệt để cũng có nghĩa là triệt tiêu. Mất chiến lũy cuối cùng, dân tộc tận diệt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

____________________________________________

Chú thích:

(1) Hoài Thanh: Thi nhân Việt Nam - Nxb Văn học 1988 - tr.35.

(2) Sđd: tr.117, 118, 119, 121.

(3) Sđd: tr.52.

KHXHNV & Đời sống khác:
Ngô Thì Nhậm, người kế tục xứng đáng truyền thống văn chính luận Việt Nam trung đại (14/11/2018)
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia (9/11/2018)
Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng của Karl Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay (9/11/2018)
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc giảng dạy triết học Mác -Lênin tại Trường đại học Kinh tế Nghệ An hiện nay (11/9/2018)
Quan điểm của Xuân Diệu trước 1945 về tính dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại của văn học Việt Nam (10/9/2018)
Những người phụ nữ đi đầu trong “Tuần lễ vàng” (6/9/2018)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức trong - Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp (31/8/2018)
Lịch sử một dân tộc “dễ bị tổn thương” (31/8/2018)
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về Khoa học và công nghệ trong giai đoạn phát triển mới (28/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,639 | Tất cả: 1,508,699
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp