ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > CON NGƯỜI XỨ NGHỆ
Tiến sĩ Đinh Văn Chất trong phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX
Tin đăng ngày: 6/9/2018 - Xem: 86
 

 

ThS. Nguyễn Văn Biểu

 Viện Sử học - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 Sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nước, có nhiều đời đỗ đạt cao. Họ Đinh Văn của Đinh Văn Chất đã nhiều đời sinh sống trên đất Nghi Lộc (Nghệ An). Dưới thời Nguyễn nhiều thế hệ con cháu đỗ cử nhân, tiến sĩ. Thế hệ đi trước làm gương cho thế hệ đi sau. Đến thời của Đinh Văn Chất thực dân Pháp xâm lược nước ta, ông vẫn chọn con đường thi cử để ra làm quan, nhưng khi Pháp đã xâm lược gần hết nước ta, thì ông lại không chịu hợp tác với triều đình làm bù nhìn cho chúng mà đứng lên chống Pháp, hưởng ứng chiếu Cần Vương cứu nước.

  1. Trước khi đỗ đạt làm quan

Đinh Văn Chất (1843-1887), hiệu là Trực Hiên, sinh tại làng Ông La, Kim Khê thượng, tổng Kim Nguyên, huyện Chân Lộc[1] (nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc), tỉnh Nghệ An, cháu Tiến sĩ Đinh Văn Phác (là con của cụ Đinh Văn Kế, chắt ngoại thi hào Nguyễn Du). Ông sinh ra trong gia đình có truyền thống khoa bảng, ông cháu đều đỗ đại khoa[2]. Dòng họ Đinh nói chung[3] và dòng họ Đinh Văn ở Nghi Lộc nói riêng là một trong số những dòng họ có nhiều danh nhân và đỗ đạt cao. Dòng họ Đinh ở Kim Khê là dòng họ có tiếng ở Nghi Lộc, có truyền thống học hành, và có nguồn gốc di cư từ Bắc vào “nguyên gốc là họ Đinh Phúc từ miền Bắc vào ẩn cư tránh loạn thời nhà Mạc…”[4]. Từ năm Đinh Mão (1747) đời Lê Cảnh Hưng đến năm Quý Sửu (1915) đời vua Duy Tân “dòng họ Đinh có 6 Hương Cống - Cử nhân, 3 Tiến sĩ”[5]. Kế tục truyền thống của quê hương và gia đình, thời nhỏ ông có tiếng chăm chỉ học hành. Đỗ đạt làm quan khi tuổi còn khá trẻ.

Tại khoa thi Mậu Thìn (1868) niên hiệu Tự Đức thứ 21 tại trường thi Hương Nghệ An ông đỗ cử nhân. Theo Cao Xuân Dục viết tại Trường Nghệ An lấy đậu 22 người: “Đinh Văn Chất (Ông cháu cùng thi đậu). Người xã Kim Khê huyện Chân Lộc. Cháu nội Tiến sĩ Đinh Văn Phác (cháu cố Đinh Văn Phiên, em Đinh Văn Chu, cha Đinh Văn Chấp, bác Đinh Văn Thái). Thi đậu Tiến sĩ khoa Ất Hợi (1875). Làm quan tới chức Tri phủ”[6].

Là người có tinh thần chống Pháp trong bối cảnh điêu tàn của nhà Nguyễn đang lúc từng bước bị thực dân Pháp gậm nhấm mất hết các tỉnh Nam Kỳ. Nhưng ông vẫn quyết tâm chọn con đường khoa cử để chọn lấy vinh danh cho mình và dòng họ, sau cùng là giúp vua giúp nước, cũng là tiếp nối truyền thống của cha ông trước đó.

Sinh ra ở vùng “Đất xấu dân nghèo” (Đại Nam nhất thống chí) nhưng có truyền thống khoa bảng “học trò ưa chuộng học hành[7], nhất là đất Chân Lộc có nhiều người đỗ đạt nhất tỉnh. So với các huyện khác của tỉnh Nghệ An thời Nguyễn “thì Nghi Lộc là một trong 3 huyện có số người đậu đại khoa cao nhất tỉnh: Nghi Lộc, Nam Đàn, Quỳnh Lưu”[8]. Do vậy mà ông được thừa hưởng nhiều truyền thống tốt đẹp của gia đình và quê hương. Đinh Văn Chất được thừa hưởng truyền thống chăm chỉ cần cù, từ cha ông đi trước, sớm ý thức vươn lên, cầu công khổ học.

Họ Đinh Văn đến đời Đinh Phiên[9] bắt đầu đỗ đạt cao, ông đỗ Hương Cống năm Quý Mão (1783), đỗ Tam trường trúng cách (tương đương Phó bảng thời Nguyễn) năm Đinh Vị (1787), được bổ làm “làm Đốc học Quảng Nam”[10] năm Ất Hợi (1815), được phong Đông các đại học sĩ, được cử đi sứ nhà Thanh năm Canh Thìn (1820), làm Toản tu Quốc Sử quán, rồi làm Thị trung Trực học, Thái thường Tự khanh, Tham bồi công việc bộ Lễ,... Sau vì liên đới với cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi (1833) bị Minh Mệnh xử tội chết, khi ông vừa mới thôi chức Huấn đạo Bình Dương vì tuổi già (70 tuổi) hưu trí, trên đường về Kinh chịu án đi đến Quảng Ngãi thì ông mất[11] vì bệnh nặng, vợ con Đinh Phiên 5 người bị án chém. Con cả Đinh Phiên là Đinh Văn Phác[12] (là ông nội Đinh Văn Chất) bị truy đoạt bằng sắc, đục bỏ họ tên trên bia tiến sĩ. Đinh Văn Phác đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Ngọ năm Minh Mệnh 3 (1822), làm Tri phủ Bình Thuận.

Ngoài họ Đinh Văn của ông ở Kim Khê, huyện Chân Lộc (Nghi Lộc) còn có các họ khoa bảng tiêu biểu khác như: Họ Nguyễn Thức ở Thịnh Trường (Nghi Trường), họ Nguyễn Đức ở Cẩm Trường (Nghi Trung), họ Nguyễn ở Đông Hải (Phúc Thọ). Như vậy, rõ ràng thời niên thiếu, bối cảnh lịch sử, quê hương gia đình dòng họ nơi Đinh Văn Chất xuất thân đã tạo nên một tiến sĩ ở tuổi mới hơn 30. Ông đã tiếp nối truyền thống của ông cha đi trước để vươn lên trong bối cảnh xã hội triều Nguyễn đang buổi suy tàn.

  1. Vị Tiến sĩ có tinh thần yêu nước chống Pháp

Khoa thi năm Ất Hợi niên hiệu Tự Đức 28 (1875), ông đã đỗ đại khoa. Bia nêu danh tiến sĩ khoa thi Hội Ất Hợi triều Tự Đức năm thứ hai mươi tám, Ban cho đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân chín người “… 2. Đinh Văn Chất, nguyên đỗ Cứ nhân. Sinh năm Đinh Mùi, hai mươi chin tuổi. Người xã Kim Khê, tổng Kim Nguyên, huyện Chân Lộc, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An”[13].

Sách Đại Nam thực lục chép kĩ hơn về khoa thi năm Ất Hợi, Tự Đức năm thứ 28 (1875), tháng 5: “Thi phúc hạch cử nhân trúng cách. Sai Thượng thư bộ Hình sung Đại thần Cơ mật viện, Kỳ Vĩ bá Nguyễn Văn Tường, thự Thượng thư bộ Lại Nguyễn Tư Giản sung chức Đọc quyển; Tả thị lang bộ Lại Trần Văn  Chuẩn, Quang lộc Tự khanh sung làm việc Nội các Bùi Ân Niên, đều sung chức Duyệt quyển. Cho bọn Phạm Như Xương 11 người đỗ Tiến sĩ, Đồng tiến sĩ xuất thân có thứ bậc. Lại lấy đỗ Phó bảng 6 người. (Tiến sĩ: Phạm Như Xương, Nguyễn Hữu Chính; Đồng tiến sĩ: Đinh Nho Điển, Đinh Văn Chất, Phan Du, Hoàng Hữu Thường, Tống Duy Tân…; Phó bảng: Lê Trinh, Hồ Bá Ôn,...”[14].

Sau khi thi đỗ ông được bổ làm  Tri phủ huyện Nghĩa Hưng[15] (Nam Định). Do có công yên dân và mẫn cán trong công việc mà ông đã có lần được vua Tự Đức thăng thưởng vào tháng 11, năm 1882: “Thưởng cho Tri phủ Nghĩa Hưng là Đinh Văn Chất 1 cái kim khánh có chữ “Liêm bình cần cán”. (Kinh lược Nguyễn Chính xét tâu chấp trị, dân không nhiễu, gặp việc thì thực hành, nên mới thưởng cho)”[16].

Nhâm Ngọ, Tự Đức năm thứ 35 (1882), tháng 2, quân Pháp đưa quân ra đánh Hà Nội, hòng chiếm trọn nước ta: “Lúc bấy giờ nước Pháp phái tàu binh đến Hà Nội, lòng người kinh hãi náo động…”[17]. Sau đó, quân Pháp “hạ được thành Hà Nội, Tổng đốc Hoàng Diệu tự tử”[18]. Sau khi thành Hà Nội một trong những trọng trấn quan trọng nhất Bắc Kỳ thất thủ, quân Pháp do Đại tá Rivie chỉ huy tiến đánh hàng loạt các tỉnh thành lân cận, trong đó có tỉnh Nam Định, nơi Tiến sĩ Đinh Văn Chất làm tri phủ. Năm Quý Mùi, Tự Đức thứ 36 (1883), tháng 2, quân Pháp đánh Nam Định, thành Nam Định mất nhưng phủ Nghĩa Hưng quân Pháp không hạ được: “Nước Pháp phái tàu binh đánh ngay tỉnh thành Nam Định (ngày 18), quan tỉnh ấy chia quân chống cự, người Pháp đánh bắn cả ngày không hạ được… Tổng đốc Vũ Trọng Bình, Bố chính Đồng Sĩ Vịnh ở trong thành chống giữ, Đề đốc Lê Văn Điếm, Án sát Hồ Bá Ôn ra ngoài thành đánh nhau với chúng, chống nhau từ giờ Mão đến giờ Ngọ. Lúc bấy giờ Kinh lược là Nguyễn Chính đóng quân ở xã Đặng Xá (thuộc huyện Mỹ Lộc) không dám đến cứu, Điếm chết trận, Ôn bị thương, quan quân vỡ tan, thành bèn mất…”[19].

Sau khi thành Nam Định mất các phủ huyện của Nam Định vẫn nổi lên chống Pháp tới mấy tháng trời liền, “Tiến sĩ Đinh Văn Chất được triều Nguyễn phong làm Tán tương quân vụ Nam Định với nhiệm vụ giữ thành Nghĩa Hưng. Thế giặc quá mạnh, vũ khí lại tối tân nên sau ba ngày chiến đấu, không còn đủ sức kháng cự, thành bị mất”[20]. Lực lượng kháng chiến gồm quân binh và dân binh ở Nam Định đã rút về hoạt động tại các vùng kháng chiến Mỹ Trọng, Cầu Gia, Tiểu Cốc, xây dựng tuyến phòng thủ bao vây quân địch.

Sau mấy tháng bị uy hiếp quân pháp đã tập trung lực lượng để phá vỡ tuyến bao vây của quân ta. Ngày 19-7-1883, địch đã huy động một binh lực lớn gồm 450 tên với sự yểm trợ của tàu chiến… trận giao chiến kịch liệt giữa hai bên, quân ta đã phải rút lui…”[21] và gây cho ta nhiều thiệt. Sau thất bại này, Đinh Văn Chất trả ấn quan cho triều đình, về chiêu lập nghĩa binh chống Pháp tại quê nhà. Ông đã hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi chống Pháp ngay ở quê nhà Nghi Lộc.

Tại Nghi Lộc, Đinh Văn Chất cùng với Ngô Quảng[22] ở làng Tam Đa, tổng Vân Trình (Nghi Hưng) và Nguyễn Hành, Nguyễn Chính, Nguyễn Mậu họp nhau bàn kế hoạch chống Pháp. Phong trào chưa kịp nổ ra thì bọn thực dân Pháp và tay sai đã dò biết. Trước sự khủng bố gắt gao của kẻ thù, các ông đã phải chuyển vùng núi thuộc địa bàn Thanh Chương tiếp tục chiến đấu[23], còn Thần sơn Ngô Quảng thì vào Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) hoạt động.

Sau khi lên Thanh Chương, Đinh Văn Chất chọn vùng Cát Ngạn làm địa bàn hoạt động. Nơi đây vừa là địa bàn hoạt động của nhiều văn thân sĩ phu yêu nước quê Thanh Chương, vừa là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Đinh Văn Chất và Nguyễn Xuân Ôn[24] (Diễn Châu) rút lên hoạt động chống Pháp để tránh sự khủng bố của kẻ thù. Đồn Chè thuộc xã Hạnh Lâm (Thanh Chương) được chọn làm căn cứ, núi Đồn được chọn làm nơi luyện tập, nghĩa quân được sự ủng hộ của nhiều văn thân, sĩ phu nhất là nhân dân vùng Thanh Chương: “Tại vùng Thanh Cương - Đô Lương, được các sĩ phu Nghi Lộc xây dựng cơ sở, phong trào chống Pháp sôi nổi hẳn lên”[25]. Thời gian này, các nghĩa quân hoạt động tại đây đã có trận đánh lớn vang dội đánh chìm tàu chiến của Pháp trên sông Giăng vào tháng 8-1885: “Nghĩa quân đã đặt súng ở gốc cây gạo thuộc chợ Phuống, bắn trúng thuyền địch, gây nhiều tổn thất, làm cho chúng không dám tràn lên”[26].

  1. Hi sinh trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX

Phong trào diễn ra được một thời gian, quân Pháp cùng với quan quân triều Nguyễn đã tập trung quân để tấn công lên căn cứ của nghĩa quân. Tháng 8 năm 1885 quân Pháp đổ bộ vào Cửa Hội, các quan Nam Triều không chống cự mà còn kéo nhau xuống đón chúng vào thành và cùng bọn chúng tiến quân tiêu diệt căn cứ khởi nghĩa của Đinh văn Chất. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ông, nghĩa quân đã chiến đấu quyết liệt với bọn chúng trên phía hữu ngạn sông Lam. Tại địa phận Vều, ông cùng cai tổng là Phạm Văn Trầng và Quản Hùng, Quản Lung ra sức chống sự tấn công của quân Pháp. Vì không cân sức cuộc khởi nghĩa thất bại. Khi thủ lĩnh Đinh văn Chất bị Pháp bắt, bị xử án chém tại Đồn Chè[27].

Thân sĩ nghĩa quân và con cháu ông bị sát hại vô số. Cụ Đinh văn Phác, ông nội Đinh Văn Chất cũng bị nhà Nguyễn đục tên trong bia Tiến sĩ tại Huế, “để bảo vệ nòi giống cho người sĩ phu suốt đời yêu nước thương dân, đã xả thân vì đại nghĩa, bà con xóm làng đã cấp báo cho nhau tìm các che dấu cho người con trai thứ hai của ông là Đinh Văn Chí (sau đổi tên là Đinh Văn Chấp) lúc bấy giờ mới có 4 tuổi[28]. Sau này năm Quý Sửu, Duy Tân thứ 7 (1913), tại kì thi Hội, Đinh Văn Chấp đã đỗ Nhị giáp Tiến sĩ[29] cao nhất khoa thi ấy. Ông được bổ làm Đốc học Quảng Nam, rồi sau đó trải qua nhiều chức vụ khác nhau[30].

Về cái chết của Đinh Văn Chất, có nhiều tài liệu chép là bị dân bên giáo hại, phải chăng là có sự nhầm lẫn do chính sử triều Nguyễn đã đổ lỗi cho họ? Sách Đại Nam thực lục chép: “Năm 1887, tháng 11, nguyên Tri phủ là Đinh Văn Chất (đỗ Tiến sĩ, người ở Nghi Lộc, xưng là Tán lý), bị dân bên giáo hại. Đều chuẩn cho tước hết Tiến sĩ xuất thân có tên ở trong sổ, còn vợ con cho về quê yên nghiệp[31].

   Lên án tội ác của thực dân Pháp, khi kể về Đinh Văn Chất trong mục “Tiểu truyện các chí sĩ lúc mất nước” Phan Bội Châu đã viết trong “Việt Nam vong quốc sử” như sau: “Đinh Văn Chất, người Nghệ An, ứng chiếu (tức Chiếu Cần vương) khởi nghĩa. Quân thua bị bắt, người Pháp bêu cả thây, thây rữa ra, học trò xin thu về chôn, người Pháp chỉ cho thây, còn đầu thì chặt lấy và đem đốt. Hành vi của cường quốc văn minh vốn là như thế đấy! Đinh Văn Chất may mà thân được như thế chăng? Cha và em ông đã chết vì quốc nạn. Hai con trai, hai cháu gọi bằng bác, một gái tuổi còn nhỏ, đều bị người Pháp giết cả. Nước văn minh vẫn thích giết như thế chăng? Ông Đinh trước xuất thân tiến sĩ, làm quan ở phủ Nghĩa Hưng, rất được lòng quân dân, đánh nhau với quân Pháp thường thắng luôn. Thành Nam Định mất, phủ Nghĩa Hưng vẫn không hạ được, nên Chất bị hình phạt thảm khốc như thế[32].

Sự nghiệp của Tiến sĩ Đinh Văn Chất làm quan chưa được 10 năm (1875-1883), và có tới 5 năm chống Pháp (1882-1887), không phải là nhiều, nhưng đó là tấm gương anh dũng hi sinh, chống lại triều Nguyễn đã mất vai trò lịch sử, đi ngược lại lợi ích dân tộc, hợp tác với Pháp đàn áp nhân dân. Cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân do Đinh Văn Chất lãnh đạo chưa đủ lớn để đốt cháy hết kẻ thù, nhưng nó như là ngọn lửa âm ỉ, sẽ bùng cháy cho truyền thống yêu nước sau đó. Ông là lớp người đầu tiên ngã xuống trong phong trào chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX. Đó là truyền thống yêu nước của họ Đinh Văn ở Nghi Lộc nói riêng và phong trào yêu nước của nhân dân Nghệ Tĩnh nói chung.

 

 

Chú thích

[1] Tên gọi Chân Lộc có từ thời Tây Sơn và đầu triều Nguyễn, sau đó huyện Chân Lộc được đổi tên thành Nghi Lộc, vì kiêng húy chữ Chân của vua Dục Đức, tên gọi Nghi Lộc có từ thời Đồng Khánh đến nay.

[2] Đinh Văn Phác (1790-?). Người xã Kim Khê huyện Chân Lộc tỉnh Nghệ An. Nay là xã Nghi Long huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An. Con Đinh Văn Phiên, ông nội Đinh Văn Chất. Sinh năm Canh Tuất, Cử nhân khoa Tân Tỵ (1821). 33 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Ngọ niên hiệu Minh Mệnh 3 (1822). Sau này Đinh Văn Chất kháng Pháp, bị giặc giết. Đinh Văn Phác vì là ông nội Đinh Văn Chất, liên đới hành trạng bị đục tên ở bia Tiến sĩ (Huế).

Đinh Văn Chấp (1893-1953). Người xã Kim Khê huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An. Nay là xã Nghi Long huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An. Con Đinh Văn Chất, tằng tôn là Đinh Văn Phác. Sinh năm Quý Tỵ. Cử nhân khoa Nhâm Tý (1912). 21 tuổi đỗ Đình nguyên Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Quý Sửu niên hiệu Duy Tân 7 (1913). Làm chức Đốc học Quảng Nam.

[3] Về dòng họ Đinh Ngo, xem thêm: Nguyễn Văn Biểu (Viết chung), Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn qua tư liệu lịch sử, in trong cuốn “Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn thân thế và sự nghiệp”, Nxb Hội Nhà Văn, 2016.

[4] Đào Thị Thu Vân, Họ Đinh Kim Khê, họ Đinh Nho Hương Sơn có chung tổ mẫu Hoàng Quý Thị, in trong cuốn “Hoàng Giáp Đinh Nho Hoàn thân thế và sự nghiệp”, Nxb Hội Nhà Văn, 2016, tr.260.

[5] Đặng Như Thường, Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802-1945), Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội, 2013, tr.128.

[6] Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, Nxb, tr.387-388.

[7] Đại Nam nhất thống chí, tập 2 (Quyển V: Tỉnh Nghệ An), Nxb Thuận Hóa, 2006, tr.168.

[8] Đặng Như Thường, Kinh tế - xã hội huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An thời Nguyễn (1802-1945), Sđd, tr.125.

      Cụ thể số lượng Đại khoa các huyện của tỉnh Nghệ An thời Nguyễn như sau:

 

STT

Các huyện

Số lượng người đỗ

1

Diễn Châu

6

2

Đô Lương

1

3

Nam Đàn

11

4

Nghi Lộc

11

5

Quỳnh Lưu

9

6

Thanh Chương

3

7

Yên Thành

2

  (Nguồn: Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), Nxb Nghệ An, tr.146-153.

 

[9] Về Đinh Phiên, xem thêm bài viết của: Đinh Văn Niêm (Nội duệ họ Đinh Văn), Đông các Đại học sĩ Đinh Hồng Phiên (1764-1833), in trong Nghiên cứu Huế, tập 8, Nxb Thuận Hóa, 2012, tr.444-457. Trong Đinh Văn Niêm, Nxb Văn học, 2015, tr.45-61.

[10] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập Một, Nxb Giáo dục, 2002, tr.901.

[11] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập Ba, Nxb Giáo dục, 2007, tr.735.

[12] Sách Đại Nam thực lục của Sử quán triều Nguyễn chép là: Đinh Văn Trác, có lẽ chép nhầm?

[13] Phạm Đức Thành Dũng - Vĩnh Cao, Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, 2000, tr.329-330.

[14] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 8, Nxb Giáo dục, 2007, tr.125.

[15] Nguyễn Q. Thắng - Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa, 1997, tr.171.

[16] Đại Nam thực lục, tập 8, Sđd, tr.546.

[17] Đại Nam thực lục, tập 8, Sđd, tr.512.

[18] Đại Nam thực lục, tập 8, Sđd, tr.518.

[19] Đại Nam thực lục, tập 8, Sđd, tr.559-560.

[20] Đinh Trần Dương, Tiến sĩ Đinh Văn Chất (1847-1887) Một sĩ phu yêu nước. Tạp chí Lịch sử quân sự, số 4, 1997, tr.49.

[21] Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Nam Định, Địa chí Nam Định, Nxb Chính trị quốc gia, 2003, tr.291.

[22] Xem thêm: Bùi văn nguyên, Góp thêm ý kiến về các cuộc khởi nghĩa chống Pháp thời kỳ đầu ở Nghệ - Tĩnh: Thần Sơn Ngô Quảng - Một trong những bộ tướng xuất sắc của Phan Đình Phùng, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 143 (1972), tr. 43.

[23] Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Nghệ An, Lịch sử Nghệ An, tập I: Từ nguyên thủy đến Cách mạng tháng Tám 1945, Nxb Chính trị Quốc gia, 2012, tr.620.

[24] Xem thêm: Lê Sĩ Toản, Nguyễn Xuân Ôn và cuộc khởi nghĩa Đồng Thông ở Nghệ An (1885-1887), Tạp chí  NCLS 1964, số 65, tr. 43-46.

[25] Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Thanh Chương, Nxb Nghệ Tĩnh, 1985, tr.20.

[26] Bùi Ngọc Tam, Thanh Chương những dấu ấn lịch sử, trong sách Thanh Chương đất và người, Nxb Nghệ An, 2005, tr.13.

[27] Về năm sinh và năm mất của ông còn có nhiều tài liệu chép khác nhau, có tài liệu chép sinh năm 1843 và 1847, ngày mất thì chép 1883 và 1887…

[28] Dẫn theo Gia phả họ Đinh ở Nghi Long do ông Đinh Văn Niêm sưu tập và TS. Đinh Trần Dương trong cuốn Danh nhân Nghệ An, tập I, Nxb Nghệ An, 1998, tr.246.

[29] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Nxb Văn hóa - Văn nghệ, 2011, tr.577.

[30] Xem thêm: Đinh Văn Niêm (Nội duệ họ Đinh Văn), Hoàng Giáp Đinh Văn Chấp, Nxb Lao động, 2011, tr.13-19. 

[31] Đại Nam thực lục, tập 9, Sđd, tr.374.

[32] Phan Bội Châu, Việt Nam vong quốc sử, Chương Thâu dịch và chú thích, Nxb Văn hóa thông tin, 2015, tr.59-60.

Đất và người xứ Nghệ khác:
Yên Thành vùng đất cổ (9/11/2018)
Trần Đình Quán - Người yêu nước và nghệ sỹ nhiếp ảnh đầu tiên của xứ Nghệ (9/11/2018)
Tiến sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục, khoa bảng ở Quảng Nam (9/11/2018)
Thẳm Nàng Màn một danh thắng hấp dẫn cho du khách về với Con Cuông (10/10/2018)
Thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông (19/9/2018)
Giá trị lịch sử di sản Hán Nôm họ Nguyễn Đăng, xã Hưng Yên Bắc, huyện Hưng Nguyên (12/9/2018)
Trung đoàn 4, Sư đoàn 337 trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979 (12/9/2018)
Tục cúng rẫy của người Khơ Mú (11/9/2018)
Tiến sĩ Đinh Văn Chất trong phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (6/9/2018)
Hang động đầy thạch nhũ lấp lánh ánh vàng ở miền Tây Nghệ An (15/8/2018)
Trai làng Nha Môn (8/8/2018)
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,545 | Tất cả: 1,508,605
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp