DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Với cuộc cải cách bộ môn Ngữ văn ở bậc phổ thông hiện nay - Đôi điều tôi muôn nói
Tin đăng ngày: 31/8/2018 - Xem: 32
 

GS.NGND Nguyễn Đình Chú

Muốn nói là bởi thấy bộ môn Ngữ văn có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục phổ thông với tuổi trẻ Việt Nam ta trong thời hiện đại và tương lai. Bản thân lại là người từng tham gia công cuộc cải cách bộ môn Ngữ văn mấy chục năm, tham gia xây dựng chương trình cải cách, viết và chủ biên một số sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bồi dưỡng giáo viên, sách bài tập của học sinh ở cả hai bậc học phổ thông trung học và phổ thông cơ sở. Do đó mà nay im lặng với công cuộc cải cách bộ môn thì không yên tâm. Rất mong được mọi người, trước  hết là các bạn đang được Bộ Giáo dục giao trọng trách này hãy coi đây như là một cuộc trao đổi vui vẻ với nhau may gì có chút hợp lực để có một cuộc cải cách bộ môn Ngữ văn đích đáng hơn trong nền giáo dục phổ thông của nước nhà thời hiện đại.

  1. Cần thuyết minh rõ hơn nữa tại sao lại cải cách? Cải cách thế nào?

Hẳn là các bạn đang được - Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho nhiệm vụ bày binh bố trận công cuộc cải cách bộ môn Ngữ văn của nền giáo dục phổ thông hiện nay, đã có nhiều thời gian, công sức, trí tuệ cho công cuộc này mà tôi chưa được biết đến nơi đến chốn. Ở đây, tôi nói là từ những gì tôi biết được trong buổi đầu. Trước hết là nội dung cuộc tọa đàm về chuyện sáu tác phẩm văn học mà chương trình bắt buộc phải có trên VTV1 trong mấy chục phút. Tiếp nữa là một số ý kiến của Tổng công trình sư chương trình phổ thông phổ quát, bài viết của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống, văn bản Chương trình giáo dục phổ thông - Môn Ngữ văn (Dự thảo ngày 19 tháng 01 năm 2018) và gần đây nhất là bài Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ có gì mới của PGS.TS. Bùi Mạnh Hùng trên Văn hóa Nghệ An số 364 ngày 10-5-2018. Nói là Chương trình giáo dục phổ thông (nhưng chính là nói về Chương trình giáo dục Ngữ văn của bậc phổ thông). Những thông tin như thế cũng đã cho thấy ít nhiều dấu hiệu cải cách đáng ghi nhận, nhưng quả thật với yêu cầu cải cách một cách đích đáng thì chưa đủ. Phải có sự thuyết minh rõ ràng hơn nữa.

Đầu tiên, phải làm rõ hơn lý do cải cách lần này là vì sao? Để rõ hơn lý do đó, trước hết lại phải có sự tổng kết chu đáo hơn về mấy lần cải cách trước xem đã được những gì mà nay cần bảo lưu? Những gì chưa được mà phải cải cách không thể nói qua loa như đã có. Không thể nói thế giới cũng thường xuyên cải cách thì mình cũng cải cách. Trong khi với thế giới chuyện này chắc là không đơn giản, đặc biệt ở những nước coi trọng việc tự quản trong nền giáo dục. Còn ở nước ta, chung quanh mấy cuộc cải cách chương trình, viết lại sách giáo khoa vừa qua phải tốn tiền của nhân dân, gây khó khăn cho những gia đình phụ huynh nghèo không phải không bị dư luận thắc mắc. Chưa nói là ở đây còn có chuyện cải cách hay điều chỉnh mà mức độ chi phí bỏ ra khác nhau. Cho nên, đúng là phải nói rõ hơn lý do cải cách lần này sao cho thật tường minh, chu đáo, đủ sức thuyết phục trước công luận. Phải nói rõ hơn trong công cuộc cải cách lần này, những tư tưởng lớn và mới hơn trước để chỉ đạo việc cải cách cụ thể là gì? Phải nói rõ hơn những nội dung cải cách cụ thể bao gồm các vấn đề như: tính hệ thống, nhất quán, tuần tự nhi tiến của toàn bộ chương trình từ tiểu học đến phổ thông cơ sở đến phổ thông trung học là thế nào một khi đã có dự định cải cách đáng ghi nhận so với trước là tạo ra một hệ thống liền mạch chứ không biệt lập, bậc nào tự làm theo bậc ấy dẫn đến tình trạng thiếu tính hệ thống, ít nhiều có sự trùng lặp, vênh nhau ở chỗ này chỗ khác. Trong một hệ thống chung từ thấp lên cao đó, tỷ lệ thời lượng giữa hai bộ phận chính là Tiếng Việt và Văn học là thế nào? Phải nói rõ hơn nữa về những đổi mới cụ thể của lần này đã đành mà cũng phải nói rõ hơn nữa khi nói về hạn chế của tình hình trước. Ví như nói trước thiên về truyền thụ kiến thức một cách thụ động mà coi nhẹ rèn luyện kỹ năng tiếp thu sáng tạo thì quả có như thế mà cũng đã tìm cách khắc phục chứ có phải đến đây mới thấy vấn đề để khắc phục đâu. Còn nay khắc phục thì có gì để làm trước. Hệ thống tác phẩm văn học trong chương trình cũng là chuyện cơ bản hàng đầu mà không thể không quan tâm đúng mức. Cho nên cùng với việc ban bố văn bản Dự thảo chương trình cải cách, cần có thêm văn bản thuyết minh về nội dung cải cách một cách cặn kẽ hơn để dễ cho việc góp ý tốt hơn và cũng dễ có sự đồng thuận hơn. Chưa nói là sau đó, việc viết sách giáo khoa, sách giáo viên và quan trọng là việc giảng dạy của các thầy cô giáo cũng tự giác hơn có kết quả hơn trong việc thực hiện chương trình cải cách. Cần thấy rằng việc cải cách nền giáo dục một cách căn bản toàn diện mà nghị quyết của Trung ương đảng đã đề ra là rất cần thiết nhưng cải cách căn bản nền giáo dục hiện thời là thế nào thì xem ra còn lúng túng lắm... Riêng với bộ môn Ngữ văn, cải cách căn bảntoàn diện là thế nào cũng lại là chuyện không đơn giản chút nào. Bởi thực tế, mỗi lần cải cách là mỗi lần có cải tiến này nọ không thể chối cãi nhưng cũng có hiện tượng cải tiến mà thành cải lùi.

  1. Về mục tiêu chung

Văn bản Dự thảo đã nêu lên như thế về mặt ngôn từ nhìn chung là khá đầy đủ. Nhưng tôi muốn nói thêm là làm sao phải có hơi thở của cuộc sống hiện đại vốn đã thay đổi rất nhiều so với trước mà tuổi trẻ học đường sớm muộn phải đương đầu với nó. Nếu không thì mục tiêu đề ra dù hay đến mấy cũng chỉ là trên giấy tờ. Để thực hiện yêu cầu tối cần này lại phải có sự khảo sát thực trạng tư tưởng, tư duy, tâm lý, lối sống của học sinh thời nay vốn liên quan mật thiết với cuộc sống của đất nước đang biến động gấp gáp như thế. Bài viết của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống đã có khảo sát nhưng vẫn cần công phu và đích đáng hơn nữa. Thật khó chối cãi rằng cuộc sống hôm nay không riêng nước ta mà cả thế giới đang diễn ra đúng như thi sĩ Tản Đà cách đây hơn một trăm năm, trong Giấc mộng con tập I, khi lên Cõi đời mới nhìn về Cõi đời cũ mà mình từng sống đã nói là “Sự văn minh tiến hóa bao nhiêu thì sự dã man cũng tiến hóa bấy nhiêu”. Bộ môn Ngữ văn trong công cuộc cải cách lần này khi nói đến Mục tiêu chung liệu đã nghĩ gì đến sứ mạng của bộ môn trước một cuộc sống hai mặt đang diễn ra như thế chưa? Nên chăng, về mục tiêu chung thêm nội dung: tích cực góp phần giúp HS có khả năng nhận thức, lựa chọn, ứng xử đúng đắn tối ưu trước sự sôi động và cũng khắc nghiệt của cuộc sống đương đại.  Dĩ nhiên, nêu thêm ở Mục tiêu chung như thế cũng  không phải cho đủ lệ bộ trên văn bản mà phải được thể hiện, quán triệt trong nội dung chương trình cải cách để rồi được quán triệt trong sách giáo khoa Ngữ văn và trong việc giảng dạy truyền thụ kiến thức cho học sinh. Cần ý thức sâu sắc rằng nội dung Ngữ văn, đặc biệt ở văn Việt Nam thời trung đại là một kho báu về triết lý nhân sinh có khả năng hỗ trợ đắc lực cho việc xử lý những vấn đề phức tạp của cuộc sống đương đại. Tôi cũng muốn ban soạn thảo làm rõ hơn mối quan hệ giữa yêu cầu nâng cao kỹ năng đọc hiểu văn bản có sáng tạo với yêu cầu thực hiện mục tiêu cuối cùng và yêu cầu có vật liệu Ngữ văn đích đáng. Để nâng cao chất lượng của bộ môn Ngữ văn nhất thiết phải coi trọng ở cả ba mặt: mục tiêu cuối cùng cần đạt, vật liệu tối ưu cho việc thực hiện mục tiêu cuối cùng và kỹ năng đọc hiểu văn bản có sáng tạo... Không thể vô tình mà đồng nhất hai khái niệm mục tiêu cuối cùngkỹ năng cũng như không thể không coi trọng vật liệu mà kỹ năng cần xử lý theo yêu cầu nâng cao chất lượng kỹ năng. Tôi cảm thấy hình như trung tâm hưng phấn của bản Dự thảo là đang dồn nhiều vào vấn đề kỹ năng đọc hiểu văn bản mà chưa quan tâm gì lắm tới sự đảm bảo việc thực hiện mục tiêu cuối cùng dù trên văn bản đã nêu đủ thứ. Bài viết của PGS.TS Bùi Mạnh Hùng trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An đã tỏ ra ít nhiều quan tâm tới mối liên kết giữa các phương diện đó nhưng vẫn cần được quan tâm sâu sắc hơn, bởi đây là chỗ cốt lõi thể hiện công cuộc cải cách bộ môn vốn không đơn giản chút nào. Cần thấy rằng về mục tiêu cuối cùng, nói thì dễ nhưng làm thì vô cùng khó. Muốn đạt được mục tiêu cuối cùng dù là tương đối không thể không có vật liệu ngữ văn tối ưu. Kỹ năng tốt đến đâu đi nữa mà vật liệu chẳng ra gì thì làm sao mà đạt mục tiêu cuối cùng. Ở văn bản Dự thảo, vật liệu về Tiếng Việt thì có rồi dù vẫn còn quá tải, chứ về Văn trong đó có văn Việt Nam, văn nước ngoài, văn học dân gian, văn học thiểu số thì chưa thấy nói gì. Chắc là đến Chương trình cụ thể mới có. Về Văn tôi đồng ý chủ trương để giáo viên tự chọn tác phẩm để dạy nhưng cũng không thể thả rông hoàn toàn được. Vì ở đây vấn đề chọn dạy tác phẩm nào lại là chuyện không đơn giản với thị hiếu, trình độ của người dạy vốn là thiên hình vạn trạng. Tốt nhất là phải xây dựng một hệ thống văn bản tối ưu trong đó đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa các bộ phận văn học để từ đó cho giáo viên tự chọn.

  1. 3. Với phân môn Văn

3.1. Về mục tiêu: tôi muốn thêm điều này nữa: giúp học sinh hình dung được phần nào tư duy văn chủ yếu là ở bậc phổ thông trung học dù lâu nay cũng đã nói đến tư duy văn học là tư duy hình tượng. Nhưng đó mới là nói qua trong khi đây là chuyện cơ bản nhất khi đến với văn chương mà thực tế lại chưa được quan tâm bao nhiêu. Tại sao cần cái điều có vẻ như quá sức này? Chúng ta đều biết trong nhiều nền giáo dục trên thế giới, có nước ta, trong chương trình giáo dục phổ thông đã coi Toán và Văn là hai môn học chính và Ngoại ngữ là môn học công cụ cần thiết. Sở dĩ coi Toán và Văn là hai môn học chính bởi đó là hai môn học tiêu biểu nhất cho hai loại hình tư duy quan trọng nhất, sang trọng nhất trong năng lực tư duy của loài người; Với Toán là tư duy trừu tượng. Với Văn là tư duy hình tượng sinh động, uyển chuyển, biến hóa, tinh tế, kỳ bí không đâu có. Tuổi trẻ học đường qua các giờ Văn mà sơ cảm được để rồi thích thú với kiểu tư duy đó thì nhất định học Văn sẽ có kết quả hơn, sẽ hạn chế được tính công thức, rập khuôn  nhàm chán trong việc học Văn. Vấn đề này thực ra không chỉ cần cho việc học Văn trong nhà trường phổ thông mà còn cần được coi trọng hơn trong khoa nghiên cứu phê bình văn học hiện thời của đất nước. Bởi tác phẩm văn học, tác gia văn học tài giỏi đến đâu thì cái gốc vẫn ở trình độ phẩm chất tư duy nghệ thuật văn học. Tư duy nghệ thuật không chỉ đẻ ra hình tượng nghệ thuật mà còn các yếu tố khác nữa của nghệ thuật. So sánh Tắt đèn của Ngô Tất Tố với Số đỏ của Vũ Trọng Phụng về đề tài, chủ đề, nội dung tư tưởng tình cảm, hơn thua thế nào thì tùy ở quan điểm đánh giá. Nhưng về tư duy nghệ thuật tiểu thuyết thì Tắt đèn còn lâu mới bằng Số đỏ. Đó là điều khỏi bàn cãi, trừ với ai ít hiểu biết văn chương, bị quan điểm xã hội học giản đơn dung tục ngự trị.

3.2. Với việc lựa chọn tác phẩm văn học để học: Đây là bộ phận nội dung chủ lực chiếm nhiều thời lượng nhất trong chương trình Ngữ văn trung học cơ sở và trung học phổ thông. Một số điều đã nêu trong Mục tiêu chung của chương trình tổng quát trong Dự thảo liên quan đến mục tiêu riêng của phân môn Văn là đúng. Nhưng sự thể hiện cụ thể trong nội dung chương trình qua việc lập danh sách tác phẩm cho giáo viên lựa chọn để giảng dạy thì không đơn giản chút nào. Trong dịp cải cách chương trình phổ thông trung học hồi 1990 - 2005, GS. Nguyễn Đăng Mạnh đưa ra quan điểm cải cách môn Văn là làm cho môn Văn “văn” hơn. Tôi đồng ý, thế nhưng nói thêm để “văn” hơn trước hết phải “người” hơn. Bởi đây là chỗ có vấn đề rất lớn cần được cải cách nâng cao vì nó liên quan đến tình hình văn hóa tư tưởng của đất nước một thời mà chương trình Văn đã chịu ảnh hưởng. Ấy là chuyện thiên về công đức mà coi nhẹ tư đức trong khi chính tư đức mới là cơ sở vững chãi của công đức. Một người mà tư đức chẳng ra gì thì công đức cũng chẳng ra gì. Và thế nào là người hơn cũng lại không đơn giản chút nào với trình độ nhận thức hiện nay. Chính từ vấn đề người hơn và đã có vấn đề như thế nên tôi đã đề nghị và được chấp nhận đưa bài thơ Khi mẹ vắng nhà của Trần Đăng Khoa, trích đoạn Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến vào sách giáo khoa phổ thông cơ sở, đưa trích đoạn Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh, học lại Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến trong chương trình phổ thông trung học... Từ lâu trong việc giảng dạy kể cả nghiên cứu văn học, ai cũng nói đến chủ nghĩa nhân đạo. Nhưng cách tiếp cận về giá trị nhân đạo đó thường lại chỉ ở bình diện đạo đức học. Trong khi đáng ra còn phải từ bình diện triết học mới là đầy đủ. Bởi nhận thức triết học sẽ bao gồm những giá trị đạo đức mà còn nhiều giá trị người nằm ngoài đạo đức...

3.3. Riêng về văn học Việt Nam, tôi còn muốn làm sao để học sinh từ bậc phổ thông cơ sở lên bậc phổ thông trung học cảm nhận được một cách sâu sắc hơn nhiều so với thông thường về thành quả kỳ diệu này của đất nước.  Goeth từng quan niệm: không phải dân tộc nào cũng có thiên tài. Chỉ một số dân tộc nào đó có thiên tài. Mà một dân tộc có thiên tài thì không phải ai cũng thành thiên tài. Chỉ một người nào đó có khả năng thành thiên tài. Mà người có khả năng thiên tài thì không phải ở tình huống nào cũng thành thiên tài. Chỉ một tình huống nào đó mới thành thiên tài. Với quan niệm nghiêm ngặt đó, theo tôi, Việt Nam là nước có thiên tài rõ nhất ở lãnh vực văn chương trong quá khứ. Mà Nguyễn Du chứ không ai khác! “Truyện Kiều là quốc hoa quốc hồn quốc túy của ta đó. Truyện Kiều còn tiếng ta còn. Tiếng ta còn nước ta còn” (Phạm Quỳnh); “Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóa thành văn” (Chế Lan Viên).  Do đó, mục tiêu chung của Dự thảo cần thêm “học văn để yêu văn mà trước hết là văn Việt Nam ta”. Dĩ nhiên đây cũng không phải nêu lên cho đủ lệ bộ mà quan trọng là ở sự quán triệt trong việc lựa chọn tác phẩm, trong nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên, trong giảng dạy và học tập.

3.4. Cũng về chương trình văn học Việt Nam, tôi chưa rõ Dự thảo có cho học lại theo tiến trình lịch sử văn học dân tộc hay không. Bởi đây là chỗ không ổn nhất của chương trình cải cách bộ môn Ngữ văn phổ thông trung học hiện đang được áp dụng. Học theo thể loại mà không theo tiến trình văn học sử để rồi có tình trạng một tác giả mà tác phẩm phải học ở hai thời điểm hai nơi. Tác phẩm trước thì học sau. Tác phẩm sau lại học trước. Lộn xộn vô cùng! Chưa nói là quan niệm về thể loại có chỗ cũng chưa ổn. Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi mà cũng coi là văn nghị luận như Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khi một bên là sản phẩm của qui luật văn sử triết bất phân ở thời trung đại, một bên là sản phẩm của thời hiện đại mà văn sử triết đã tách khỏi nhau. Chưa nói là học sinh Việt Nam đã qua bậc học phổ thông trung học mà không có một chút ý niệm gì về lịch sử văn học dân tộc trong đó nổi lên một số tác giả kiệt xuất thì sao đành. Cho nên trở lại học theo tiến trình văn học sử là rất đúng mặc dù phải tính toán sao cho khỏi quá tải và có mức độ hợp lý giữa bậc phổ thông cơ sở và phổ thông trung học.

  1. 4. Với phân môn Tiếng Việt

4.1. Vấn đề thời lượng trong tương quan với phân môn Văn

Đã từng có sự xác định hợp lý về tỷ lệ quan trọng giữa Văn và Tiếng Việt trong hệ thống giáo dục phổ thông là như sau: Cấp một: Tiếng là chính, Văn là phụ. Cấp hai: Văn - Tiếng ngang nhau. Cấp ba: Văn chính, Tiếng phụ. Nhưng đến đợt cải cách chương trình Ngữ văn phổ thông trung học (1990 - 2005) thì Tiếng Việt được nâng từ 14 tiết lên 43 tiết trong khi quỹ thời gian của toàn cấp là 254 tiết rút xuống chỉ còn 196 tiết. Đây không chỉ là chuyện của chương trình phổ thông trung học mà lúc này hầu hết các trường đại học trong phạm vi Chương trình văn hóa đại cương cũng phải học Tiếng Việt. Môn Tiếng Việt bỗng nhiên lên ngôi như thế là bởi cho rằng tình hình viết văn của người Việt Nam ta đến giáo sư tiến sĩ cũng kém do không học Tiếng Việt đến nơi đến chốn. Thế là, các nhà viết sách giáo khoa về Tiếng Việt tha hồ mà áp dụng lý thuyết ngôn ngữ này nọ cho các sách giáo khoa, gây nên tình trạng quá tải, hàn lâm một cách thừa thãi, không cần thiết. Trong nhiều lần họp Hội đồng bộ môn Ngữ văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tôi yêu cầu các ủy viên về Ngôn ngữ trả lời tôi mấy câu hỏi như sau: a) Với học sinh, ngôn ngữ bản năng là quyết định. Vậy giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ bản năng với ngôn ngữ cần nâng cao của nhà trường thế nào là hợp lý?  b) Với học sinh hết bậc phổ thông trung học, tuyệt đại đa số sau đó không đi vào ngôn ngữ học. Vậy ở bậc phổ thông trung học, cung cấp kiến thức cho họ về Tiếng Việt ở mức nào là hợp lý?      c) Dạy Tiếng Việt cho học sinh Việt Nam đã có ngôn ngữ bản năng khác với việc dạy Tiếng Việt cho người nước ngoài thế nào là hợp lý? Theo tôi, để có cơ sở khoa học cần thiết cho việc xây dựng chương trình Tiếng Việt trong nhà trường phổ thông thì phải làm rõ được các vấn đề đó. Nhiều lần hỏi như thế nhưng chưa một lần được trả lời. Nay tôi lại xin hỏi các vị trong ban soạn thảo chương trình cải cách đặc biệt là mấy vị thuộc chuyên ngành ngôn ngữ. Còn nói trình độ viết văn kém là do ít học Tiếng Việt thì tôi xin thưa: tại sao không ít người Việt Nam, đặc biệt là các nhà văn, không học gì về Tiếng Việt, hoặc chỉ học một ít ngữ pháp tiếng Pháp ngày nhỏ mà rồi viết văn không những đúng ngữ pháp mà còn hay. Đó không phải là sự thật sao? Còn do đâu mà viết văn đúng văn pháp và còn hay nếu không phải là người có tư duy sáng sủa, chuẩn xác, có nhiều vốn sống, có trình độ văn hóa, đặc biệt là có năng khiếu bẩm sinh về văn chương. Nói thế, tôi không hề coi nhẹ việc dạy Tiếng Việt cho tuổi trẻ học đường. Tôi chỉ muốn nói qui nguyên nhân trình độ viết văn kém là chỉ do không học nhiều Tiếng Việt đến nơi đến chốn để rồi nâng thời lượng cho phân môn Tiếng Việt lên như hiện nay là không ổn, dứt khoát phải thay đổi.

4.2. Thế nào là đạt mục tiêu của phân môn Tiếng Việt

Dự thảo chương trình có nêu mục tiêu là “bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với Tiếng Việt”. Nhưng vấn đề cần đặt ra ở đây là: với mục tiêu như thế thì cách dạy Tiếng Việt như lâu nay liệu có đạt được không? Xin các vị hãy cùng tôi từ chuyện này mà bàn luận. Bắt một con bướm đem ép vào vở rồi đưa vào phòng thí nghiệm sinh vật mổ xẻ phân tích để biết bướm có bao nhiêu tố chất. Còn Huy Cận, Xuân Diệu thường lại hay nói đến cái thú vui ngồi trong cửa sổ ngắm nhìn bướm bay lượn ngoài vườn trong những buổi chiều xuân mát dịu rạo rực sức xuân. Rõ là có hai trạng thái như thế không thay thế nhau được. Nhưng để học sinh yêu Tiếng Việt, quí Tiếng Việt giữa thời buổi Tiếng Việt đang bị rẻ rúng, mà khẩu hiệu dưới thời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nêu cao là “Giữ gìn và bảo vệ sự trong sáng của Tiếng Việt” chẳng thấy đâu nhắc lại nữa thì các nhà cải cách chương trình nghĩ sao? Dạy Tiếng Việt như hiện nay quả là có giúp học sinh hiểu hơn Tiếng Việt dù có thừa thãi như đã nói nhưng liệu đã giúp học sinh yêu quí Tiếng Việt được chưa? Hay vẫn là chuyện ép bướm để đưa vào phòng thí nghiệm sinh học. Thực tế, Tiếng Việt đẹp đến đâu, kỳ diệu đến đâu là ở những văn cảnh cụ thể, văn mạch cụ thể, tựa như bướm đang bay lượn ngoài vườn chứ không phải đang được phân tích mổ xẻ ở phòng thí nghiệm sinh vật. Nêu vấn đề này lên, tôi muốn nói hai điều:

- Dứt khoát phải chấm dứt tình trạng nâng thời lượng để rồi sa vào tình trạng hàn lâm một cách thừa thãi trong chương trình Tiếng Việt ở bậc phổ thông cơ sở nhất là phổ thông trung học. Giảm thời lượng và nội dung Tiếng Việt nhưng lại phải tăng cường việc dạy từ Hán Việt vì đây là chỗ yếu kém nhất trong đời sống Tiếng Việt hiện nay. Viết văn kém, một nguyên nhân chính là do không học từ Hán Việt vốn chiếm khoảng 70% trong kho từ vựng Tiếng Việt.

- Quán triệt và nâng cao chất lượng áp dụng phương pháp tích hợp giữa Văn và Tiếng từ hai phía. Trong dạy văn, phải coi trọng việc dạy tác dụng ngôn từ hơn so với thông thường. Trong dạy Tiếng phải coi trọng giá trị văn hơn so với thông thường. Làm sao cho mối lương duyên giữa Văn và Tiếng ngày một thắm thiết tươi đẹp hơn.

 

Diễn đàn khác:
Đôi điều suy ngẫm về đạo đức công vụ trong tình hình hiện nay (11/9/2018)
Vẻ đẹp cá tính người phụ nữ trong bài thơ "Bánh trôi nước" (10/9/2018)
Dùng một lần (7/9/2018)
Đánh vần thì đánh, đừng đánh thầy Đại (7/9/2018)
Khi nông dân chán... đại học (6/9/2018)
Đối thoại với nhà nghiên cứu Trương Công Anh về kinh doanh rừng tổng hợp (31/8/2018)
Với cuộc cải cách bộ môn Ngữ văn ở bậc phổ thông hiện nay - Đôi điều tôi muôn nói (31/8/2018)
Về sách giáo khoa bậc phổ thông - Như tôi hiểu và mong muốn (8/8/2018)
Mấy suy nghĩ trong việc đánh giá đúng cán bộ (7/8/2018)
Quản trị nhân lực công (7/8/2018)
Tham nhũng vẫn rất nghiêm trọng! (2/8/2018)
Dạy sai có thể khiến cả một dân tộc sai lầm (2/8/2018)
Hình thành dần thói quen làm khoa học cho doanh nghiệp (20/7/2018)
Hãy nghĩ để hướng tới ngành trông rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp cho miền Tây Nghệ An (9/7/2018)
Ý kiến về cải cách giáo dục: Thầy giáo phải có tri thức uyên bác và văn hóa cao (9/7/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,137 | Tất cả: 1,422,237
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp