NGHIÊN CỨU KHXH&NV > NGHIÊN CỨU VĂN HÓA - XÃ HỘI
Vấn đề Hồ Xuân Hương - Thử tiếp cận những bài thơ có gốc nguồn văn bản
Tin đăng ngày: 31/8/2018 - Xem: 53
 

Thạch Quỳ

Upload

Hồ Xuân Hương là nhà thơ rất quen thuộc với chúng ta nhưng vẫn còn nhiều điều đang xa lạ đối với đa số bạn đọc. Từ trước tới nay, chúng ta đọc thơ Hồ Xuân Hương phần nhiều ở mảng thơ “trào phúng dân gian đặc dị” do người đời sau sưu tầm, chép lại, rồi in thành sách, không có cứ liệu văn bản cụ thể, không có nguồn gốc, để có thể khẳng định chắc chắn những thơ đó là của Hồ Xuân Hương. Cụ thể: Theo các tài liệu của nhà nghiên cứu như Trần Thanh Mại, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Lộc, Đào Thái Tôn… thì Hồ Xuân Hương mất vào năm 1822 nhưng mãi đến năm 1893, tức là 71 năm sau, mới có một tập thơ được nói là thơ của Hồ Xuân Hương ra đời. Tập thơ này do ông Antony Landes, giám đốc trường Thông ngôn Sài Gòn thuê người sưu tầm trong dân gian rồi chép lại, tất cả có 62 bài. Tiếp sau đó, các nhà soạn sách cũng từ nguồn dân gian sưu tầm và bổ sung thêm các bài khác nữa, cũng lại in ấn thành sách và gọi chung một tên là Thơ Hồ Xuân Hương. Chúng ta có thể kể: Thơ Hồ Xuân Hương bằng chữ Nôm khắc ván vào các năm 1909, 1914, 1921, 1922; Thơ Hồ Xuân Hương in bằng chữ Quốc ngữ của Xuân Lan 1913; Thơ Hồ Xuân Hương in trong Văn đàn bảo giám của Trần Trung Viên 1926, 1932.

Từ 1945 đến nay, các sở văn hóa, các nhà xuất bản đã in đi in lại thơ Hồ Xuân Hương kể đến hàng trăm lượt đều là mảng thơ “trào phúng dân gian đặc dị”, nói là của Hồ Xuân Hương nhưng thực chất vẫn là từ nguồn gốc sưu tầm mà ra. Ngoài ra, các sách giáo khoa từ tiểu học, trung học, đại học hàng chục năm nay đều in ấn dạy và học mảng thơ này, thậm chí, cả thầy và trò đều đương nhiên coi mảng thơ “trào phúng dân gian đặc dị” này là của Hồ Xuân Hương. Trước tình hình đó, nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học đã lên tiếng cải chính và cho rằng mảng thơ “trào phúng tếu táo tiếu lâm vui đùa” này là hiện tượng dân gian hóa thơ Hồ Xuân Hương, tương tự như là mảng truyện đã được dân gian hóa ở trong truyện Trạng Quỳnh vậy!

Năm 1964, nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Thanh Mại, lần đầu tiên phát hiện được một văn bản thơ chép tay của chính tác giả Hồ Xuân Hương là tập thơ Lưu hương ký với lời đề tựa của ông Tốn Phong - Người bạn cùng thời, rất thân thiết của nhà thơ. Đây là văn bản thơ, là cứ liệu lịch sử đáng tin cậy nhất, có giá trị nhất, giúp chúng ta tìm hiểu gương mặt thật nhất, đích thực nhất về thơ Hồ Xuân Hương.

Để có niềm tin về tính chính xác và độ tin cậy đối với văn bản tập thơ này, chúng ta hãy đọc một vài đoạn trích trong lời giới thiệu tập thơ: “Mùa xuân năm Đinh Mão (1807), tôi đến thành Thăng Long, nhân cùng bạn là Cư Đình nói chuyện về các tài nữ xưa nay, bạn ấy nói cho tôi biết, cùng tỉnh với tôi có người phụ nữ là Cổ Nguyệt Đường Xuân Hương học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép mà văn hoa, thực là một tài nữ. Tôi liền tìm đến hỏi thăm, mới biết cô là em gái ông lớn họ Hồ, đậu Hoàng giáp, người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu. Chúng tôi mới tình cờ gặp nhau lần đầu mà đã thành ra đôi bạn thân thiết. Trong những khi uống rượu ngâm thơ, kẻ xướng người họa, tứ thơ dồi dào, nhưng vẫn tỏ ra “vui mà không buông tuồng, buồn mà không đau thương, lo phiền, khó cùng mà không bức bách, thực là do tính tình nghiêm chỉnh mà ra, cho nên khi hát lên, ngâm lên những thơ ấy thì tay muốn múa, chân muốn dậm mà không tự biết!

Từ đó, có những lúc tôi phải bôn ba vào Nam ra Bắc, không thể cùng nhau sớm hôm xướng họa. Còn Xuân Hương thì cảnh mẹ già nhà túng mà ăn ở không được yên ổn.

Sang mùa xuân năm Giáp Tuất (1814), tôi tìm đến chỗ ở cũ của cô, hai bên vừa mừng vừa tủi, Xuân Hương liền cầm tập thơ Lưu hương ký đưa cho tôi xem và bảo rằng: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước tới nay, nhờ anh làm cho bài tựa”.

Qua lời giới thiệu tập thơ của ông Tốn Phong, chúng ta tin rằng tập thơ Lưu hương ký đích thị là tập thơ của Hồ Xuân Hương chứ không thể là của một nhà thơ nào khác. Tuy nhiên, tập thơ này được viết bằng hai thứ chữ, chữ Nôm và chữ Hán. Cả phần thơ Nôm và thơ chữ Hán trong tập thơ này chưa được phổ biến một cách rộng rãi trong bạn đọc, đặc biệt là phần thơ chữ Hán thì đang rất ít người được tiếp cận.

Nhà thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương là một danh nhân văn hóa có tầm cỡ nước ta và là niềm vinh dự tự hào của tỉnh nhà, bởi lý đó, chúng tôi muốn giới thiệu một số bài thơ trong phần thơ chữ Hán đang quá ít bạn đọc biết đến của nhà thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương với mục đích là để chúng ta được tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương bằng những văn bản đích thực.

Bởi lẽ đó, bước đầu chúng tôi xin chọn để giới thiệu với bạn đọc một số bài thơ viết bằng chữ Hán khá tiêu biểu của tác giả rút ra từ văn bản của tập thơ Lưu hương ký.

Bài 1(1):

Phiên âm:

Ma diệt thông minh giảm kiến linh

Tấc mao tâm khiếu thặng dư đình

Chỉ duyên tùy phận cấp bôn tẩu

Vị đắc phong hoài tế nhục vinh

Đầu thượng tuyết sương thân dược quyện

Ổn dư tào bạch vị phi hinh

Lân hương tình chủng si ư ngã

Tiễn tận hàn đăng bất yếm canh (1)

Dịch nghĩa:

Thời gian, cuộc sống dần dà sẽ mài mòn trí thông minh, làm giảm thiểu sự linh diệu ngay trong những sự việc mà chính mình diện kiến, mắt thấy, tai nghe.

Các giác quan cũng dần dà mờ tối chỉ còn lại tấm thân như lá cỏ héo.

Chỉ vì duyên, vì phận nên con người phải long đong xuôi ngược, gấp gáp bôn tẩu.

Mà chưa đạt được cái nhìn phóng khoáng để có thể coi vinh nhục cũng như nhau!

Khi trên đầu tóc đã điểm sương, thân thể đã rã rời mệt mỏi.

Lúc đó mới biết, có ai bảo vị cám bã, vị canh cặn cơm thừa là thơm đâu!

Cái tình quê hương thì vẫn nặng trong ta.

Thao thức đến tận khi ngọn đèn tàn trong đêm lạnh vẫn một nỗi niềm không thay đổi.

Bài 2(2):

Phiên âm:

Quỷ vô tài điệu sử nhân kinh

Thập tải phong trần quán dĩ linh

Dĩ thị lâm bình tri địch thủ

Mạc tu sao nguyệt khổ đàn tinh

Vị luân, vị đạn tùy tao ngộ

Thùy phượng thùy oanh nhậm phú sinh

Tạo vật ư nhân hà cẩu tích

Minh châu hưu hướng ám trung trinh

Dịch nghĩa:

Ta không có tài cán gì để làm cho người phải sợ

Chỉ có mười năm gió bụi đã từng trải

Nhưng đã ngồi trước bàn cờ thì phải biết địch thủ

Chưa đến nỗi phải chọn từng âm, từng chữ cho khổ sở vì nghiệp thơ đàn

Là bánh xe hay là viên đạn cũng đều do hoàn cảnh đưa đẩy

Là chim phượng hay chin oanh đều do trời định

Tạo vật và con người được sinh ra không hề cẩu thả

Đã là hạt ngọc minh châu thì trong bóng tối cũng phát sáng!

Bài thơ này, ngoài việc cho ta biết hoàn cảnh của Hồ Xuân Hương “đã mười năm gió bụi” vất vả kiếm sống để nuôi thân và nuôi mẹ già ở nơi đất khách quê người thì bao trùm lên hết thảy là một nhân sinh quan vị tha, khoáng đạt, thông cảm với mọi số phận, mọi vị thế, mọi hoàn cảnh sống của con người “Là bánh xe hay là viên đạn, chẳng qua cũng là do hoàn cảnh đưa đẩy mà thành ra như thế, là chim phượng hay chim oanh cũng từ bẩm sinh cấu tạo”. Con người, dẫu ở hoàn cảnh nào thì Hồ Xuân Hương vẫn tin vào phẩm chất tốt đẹp của họ. Ý đó được tác giả thể hiện rất rõ trong câu thơ “Tạo vật và con người được thiên nhiên phú bẩm không hề cẩu thả”.  Bởi cái phẩm chất người “được phú bẩm không hề cẩu thả” đó, nên nhà thơ rất sẵn lòng gửi gắm niềm tin vào con người như tin vào chính mình: Đã là ngọc minh châu thì dù ở trong bóng tối vẫn long lanh phát sáng!

Tháng 2 năm Ất Hợi (1815), một người đồng hương ở Nghệ An, tên là Trần Ngọc Quán được bổ nhiệm chức Tham hiệp trấn Sơn Nam Thượng (trấn lỵ đặt ở Châu Cầu, tức Phủ Lý ngày nay). Nhân chuyến đi làm việc quan ở bên kia sông Lục Đầu, ông Tham hiệp đã ra Thăng Long, đến Cổ Nguyệt Đường tìm gặp Hồ Xuân Hương tại tư gia của nhà thơ. Trong quan hệ tình cảm đồng hương chân thành thắm thiết, sau cuộc chuyện trò thân mật, chủ và khách chuyển câu chuyện sang đề tài văn chương. Hồ Xuân Hương có đề nghị ông Tham hiệp đọc một bài thơ. Sau đó, Hồ Xuân Hương coi bài thơ ông Tham hiệp vừa đọc như là một bài thơ xướng và nhà thơ đã họa vần lại bài này.

Sau đây là bài thơ của Hồ Xuân Hương họa lại bài thơ xướng của ông Tham hiệp, ngõ hầu bày tỏ tình cảm của nhà thơ đối với người đồng hương trong lần gặp gỡ đầu tiên, thuở đó. Bài thơ này không có đầu đề, nhưng theo nội dung, chúng ta tạm gọi tên bài thơ là Gặp bạn cùng quê cho dễ nhớ:

Phiên âm:

Hàn danh cửu ngưỡng hỉ tương phùng

Cận tiếp quang nghi nhật chính đông

Hậu ý vị giao tri thủy đạm

Tình hoài sơ ẩm giấc đôn nồng

Ngô châu thánh khí hoàn tương thượng

Ngã bối tài tình chính sở chung

Ác thủ đàm tâm quân mạc quái

Lục giang nhất khứ thủy thiên trùng

Dịch nghĩa:

Đã từng ngưỡng mộ tiếng tăm, nay mừng được gặp mặt

Lại được tiếp cận với dung nghi vào buổi sớm lúc hừng đông

Vốn sẵn có nhã ý từ văn chương nên chưa gặp nhau cũng đã biết tính tình thanh đạm

Chén rượu vừa nhấp, tình cảm quê hương đã nồng nàn, đôn hậu

Tiếng tăm của quê ta còn được mọi người ngưỡng vọng

Chút tài tình của chúng ta chính là đã được chung đúc từ thanh khí nơi đây

Cầm tay thổ lộ nỗi lòng, xin chàng chớ ngại

Vì sau lúc chia tay chàng sẽ tới Lục Đầu Giang, chúng ta lại xa nhau non nước muôn trùng!

Bài thơ này cho ta thấy tình cảm của nhà thơ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đối với quê hương Nghệ An thật chân thành, đằm thắm. Được gặp mặt người bạn đồng hương lòng nhà thơ cảm thấy vui mừng khôn xiết “Cầm tay thổ lộ nỗi lòng thì xin anh cũng chớ ngại”!

Như chúng ta đã biết, Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi nho gia, bà là con gái ông Hồ Sĩ Danh, được nhà vua ban tặng chức Hàn lâm thừa chỉ và Hàn lâm Thái bảo, lại là em gái ông Hồ Sĩ Đống, đậu Đình nguyên đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, làm quan đến chức Hành tham tụng, tước Quận công. Xuất thân trong một gia đình như thế, hẳn là bà phải có “ý thức bẩm sinh” về việc giữ gìn lễ giáo gia phong, chỉn chu lễ nghĩa, trong cách ứng xử, với nguyên tắc bất di bất dịch “nam nữ thụ thụ bất thân”! Ấy thế mà Hồ Xuân Hương lại bảo người bạn nam của mình rằng “cầm tay thổ lộ nỗi lòng, xin anh chớ ngại”! Mới biết, tình cảm đồng hương, tình cảm quê hương ở trong lòng Hồ Xuân Hương rất sâu nặng, tự nó bột phát ra một cách hồn nhiên để vượt qua các rào cản của các lễ giáo khắt khe.

Trong bài thơ này, Hồ Xuân Hương cũng không e ngại khi nói thẳng ra niềm tự hào của chính mình đối với quê hương xứ Nghệ: “Tiếng tăm của quê ta còn được mọi người ngưỡng vọng”, “tài tình của chúng ta chính là cũng được chung đúc từ thanh khí nơi đây”!

* *  *

Lưu hương ký là tập thơ tình. Hồ Xuân Hương ghi lại những cảm xúc về tình yêu, tình bạn của nhà thơ suốt thời tuổi trẻ. Đây không phải là tập thơ tình viết về tình yêu, tình bạn chung chung mà là những mối tình cụ thể với những con người cụ thể, người thật, việc thật, có lai lịch, có chức vị, có danh tính xác định rõ ràng.

Thời trẻ tuổi, nhà thơ Hồ Xuân Hương giao lưu gặp gỡ với nhiều người, nhiều bạn, chủ yếu là những người bạn thơ đến tao đàn Cổ Nguyệt Đường do nhà thơ sáng lập ra để cùng nhau đàm đạo văn chương và làm thơ xướng họa. Về mục đích của việc thành lập tao đàn Cổ Nguyệt Đường, Hồ Xuân Hương nói rõ:

Đình Nguyệt góp người chung đỉnh lại

Trời Hoan mở mặt nước non xưa!

Nghĩa là: Tao đàn Cổ Nguyệt Đường được thành lập ra với mục đích thu góp những người tài danh lại để làm rạng rỡ thêm cho mảnh đất Hoan Châu  xưa - xứ Nghệ ngày nay.

Đúng như tuyên ngôn thành lập, hội tụ ở tao đàn Cổ Nguyệt Đường của nhà thơ Hồ Xuân Hương hầu hết là những tao nhân mặc khách, những người yêu văn chương và nhiệt thành say mê sáng tác. Trong số tao nhân mặc khách ấy, chúng ta thấy khá nhiều người học hành đỗ đạt, khá nhiều người đã được nhà nước bổ nhiệm làm quan giữ các chức vụ từ Tri phủ đến Tham hiệp, tức là những ông quan đứng đầu huyện, đầu tỉnh ở các trấn lỵ. Họ đều là những người bạn thân thiết của Hồ Xuân Hương, cùng làm thơ, cùng xướng họa thơ với Hồ Xuân Hương ở tao đàn Cổ Nguyệt. Cũng từ đó, tình yêu, tình bạn của nhà thơ dần dà nẩy nở rồi theo quy luật sẽ biến chuyển thăng trầm theo năm tháng và các lần chia ly, gặp gỡ.

Chúng ta hãy điểm qua các mối tình đó, với nhiều cung bậc tình cảm trầm bổng khác nhau, nhưng tất cả hãy còn in dấu trong các bài thơ do chính nhà thơ ghi lại.

Này đoạn chung tình biết mấy(3) nhau

Tiễn đưa ba bước cũng nên câu

Trên tay khép mở tanh chiều nhạn(4)

Trước mắt đi về gấp bóng câu(5)

Nước mắt trên hoa mờ lối cũ

Mùi hương trong nệm suốt đêm thâu

Vắng nhau mới biết tình nhau lắm

Này đoạn chung tình biết mấy nhau…

Đây là bài thơ ghi dấu về mối tình đầu, mối tình từ thuở hoa niên, hồn nhiên trong sáng nhưng cũng rất đỗi thiết tha chân thành của Hồ Xuân Hương với một chàng trai có hiệu danh là Mai Sơn Phủ. Mai Sơn Phủ thuở ấy chỉ là một thư sinh tài tử, học hành chưa đậu đạt, chưa có chức tước danh vị gì, nhưng Hồ Xuân Hương đã yêu chàng bằng “tình yêu sét đánh”, nghĩa là tình yêu choáng ngợp ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên. 

Mai Sơn Phủ, chàng thư sinh tài tử này là một người đồng hương (sau này ta sẽ rõ), có thể là ra học hoặc ra thi cử ở Thăng Long, hai bên gặp gỡ rồi sau đó chàng từ biệt Hồ Xuân Hương để trở về Nghệ An, hoặc đi đâu đó chúng ta chưa rõ, nhưng chàng đã để lại trong lòng Hồ Xuân Hương một nỗi xao xuyến đầu đời, thương nhớ khôn nguôi. Bài thơ này ghi lại nỗi niềm của nhà thơ lúc vắng bóng người yêu, sau ngày từ biệt. Mai Sơn Phủ là chàng trai tài tử, thông minh, “tiễn đưa ba bước cũng nên câu”. Mối tình Hồ Xuân Hương - Mai Sơn Phủ là mối tình trong sáng, thiết tha, sâu nặng. Vắng hình, vắng bóng Mai Sơn Phủ, Hồ Xuân Hương không thể cầm được mắt khi một mình bước chân đi về trên lối cũ. Giấc ngủ của nàng thơ cũng trở nên chập chờn, suốt đêm sâu nàng thơ không ngủ được luôn phải trằn trọc trong không gian “hương gây mùi nhớ” của tình yêu. Chàng đi rồi, nàng mong mỏi một bức thư của chàng trở lại mình thì  “trên tay khép mở” cũng vắng “tanh chiều nhạn”!

Bài thơ này Hồ Xuân Hương viết bằng chữ Nôm. Chúng tôi giới thiệu để bạn đọc bước đầu làm quen với mối tình Hồ Xuân Hương - Mai Sơn Phủ. Trong tập thơ Lưu hương ký, Hồ Xuân Hương viết về mối tình này chủ yếu là bằng các bài thơ chữ Hán. Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một bài thơ chữ Hán, có thể gọi là hay nhất của nhà thơ viết về mối tình này. Bài thơ tuy nói là viết theo điệu Giang Nam, nhưng về hình thức, thể loại, thì đích thị nó xứng đáng được coi là một bài thơ mới, thơ tự do. Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại bài thơ tự do này.

Thuật ý kiêm trình hữu nhân Mai Sơn Phủ

Hoa phiêu phiêu

Mộc tiêu tiêu

Ngã mộng hương tình các tịch liêu

Khả cảm thị xuân tiêu

 

Lộc ao ao

Nhạn ngao ngao

Hoan hảo tương kỳ tại nhất triêu

Bất tận ngã tâm miêu

 

Giang bát bat

Thủy hoạt hoạt

Ngã tư quân hoài tương khế khoát

Lệ ngân chim hạ cát

 

Thi tiết tiết

Tâm thiết thiết

Nồng đạm thốn tình tương lưỡng đạt

Dạ bằng quân bút phát

 

Phong ngang ngang

Nguyệt mang mang

Phong nguyệt không linh khách đoạn trường

Hà xứ thị Đằng vương

 

Vân thương thương

Thủy ương ương

Vân thủy na kham vọng nhất trường

Nhất trường dao vọng xúc hoài mang

 

Nhật kì kì

Dạ trì trì

Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi

Tứ bi ung mạc ngộ giai kì

 

Phong phì phì

Vũ phì phì

Phong vũ tần thôi thái bút huy

Bút huy đô thị phó tình nhi

 

Quân hữu tâm

Ngã hữu tâm

Mộng hồn tương luyến liễu hoa âm

Thi đồng ngâm

Nguyệt đồng châm

Nhất tự sầu phân nhuệ

Hà nhân noãn bán khâm

Mạc dàn ly khúc oán tri âm

Trực tu trí khí thử dao cầm

Cao sơn lưu thủy vãn tương tầm

Ưng bát hận ngâm than cổ câm

 

Quân hà kì

Ngã hà kì

Lữ đình lai dắc lưỡng thê trì

Dánh tần phi

Bút tần huy

Nhất trường đô bút thiệt

Hà xứ thị tình nhi

Hảo bằng tâm thượng các tương tri

Dạ ưng dao thác thử duyên đê

Phương tâm thệ bất phụ giai kì

Dịch nghĩa:

Kể ý mình, cùng gửi bạn là Mai Sơn Phủ

 Hoa xiêu xiêu

Cây xiêu xiêu

Giấc mộng tình quê thảy tịch liêu

Đêm xuân cảm khái nhiều

Hươu ao ao

Nhạ ngao ngao

Vui sướng hẹn nhau một sớm nào

Tả hết được tình sao!

 

Sông bát ngát

Nước rào rạt

Ý thiếp lòng chàng càng vu khoát

Lệ rơi thêm mặn chát

 

Thơ da diết

Lòng thê thiết

Đậm nhạt tấc lòng ai thấu hết

Liệu bút chàng tả xiết?

 

Mây lang thang

Trăng mênh mang

Trăng gió ai xui luống đoạn tràng

Nơi đâu là gác Đằng vương?

 

Mây tơ vương

Nước như sương

Mây nước trôi đâu chỉ một đường

Một đường xa khuất nặng lòng thương

 

Ngày chậm rì

Đêm chậm rì

Sáng tối chạnh buồn lữ khách si

Nhớ thương không lỡ hẹn, sai kỳ

 

Mưa trôi đi

Gió trôi đi

Mưa gió giục hoài bút viết thi (thơ)

Viết thi gửi đến khách tình si

 

Chàng có tâm

Thiếp có tâm

Mộng hồn lưu luyến bóng hoa câm

Thơ cùng ngâm

Rượu cùng trăng

Từ lúc buồn chia biệt

Ai người ấm nửa chăn?

Chớ đàn li khúc oán tri âm

Đành xem như hết tiếng dao cầm

Núi cao sông rộng thôi thề hẹn

Cổ kim muôn nỗi buồn âm thầm

 

Chàng hẹn gì

Thiếp hẹn gì

Hai ta đều muộn, nói mà chi

Trà mà chi

Bút mà chi

Cũng là thiên lý cả!

Hỏi ai là kẻ tình si

Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì

Hãy nên trao gửi mối duyên đi

Lòng son ai nỡ phụ giai kỳ!

(Bản dịch của Đào Thái Tôn)

 Nguyên tác bài thơ có vần điệu rất lạ, rất mới. Có lúc cả khổ thơ chỉ có một vần bằng hoặc chỉ một vần trắc, dịch giả đã cố giữ nguyên vần của nguyên tác ở trong bản dịch này. Có thể coi đây là bản “dịch vần” của bài thơ.

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ lớn. Ngoài thơ trữ tình xướng họa, nhà thơ còn vết nhiều bài thơ vĩnh cảnh ca ngợi vẻ đẹp của non sông đất nước cũng bằng chữ Hán.

Nếu có dịp, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu với bạn đọc phần thơ này để chúng ta được tiếp cận toàn diện hơn với các bài thơ có gốc nguồn văn bản của chính thức của nhà thơ, đồng thời cũng là để chúng ta nhận diện được chân dung đích thực của nhà thơ mà chúng ta yêu quý...

Chú thích

(1) Bài thơ do Hồ Xuân Hương xướng, không thấy bài họa và không có tên bài.

(2) Đây là bài thơ Hồ Xuân Hương họa vần lại bài thơ do một người bạn cùng quê Nghệ An với bà là ông Trần Ngọc Quán lúc bấy giờ đang làm quan Tham hiệp ở trấn Sơn Nam Thượng, đến hội thơ tao đàn Cổ Nguyệt Đường, nơi ở của Hồ Xuân Hương viết ra bài xướng.

(3) Biết mấy nhau, từ Việt cổ, “mấy” có nghĩa là “với”, câu thơ nói rằng, chỉ hai người biết với nhau, điều đó chứng tỏ mối tình này đang ở giai đoạn kín đáo, chưa hé lộ cho ai biết.

(4) Tanh chiều nhạn, tức là vắng bóng con chim nhạn đưa thư, chàng đi rồi, nàng chờ đợi mãi mà trên tay vẫn chưa hề có lá thư nào trở lại.

(5) Gấp bóng câu (điển cố), đại ý nói là thời gian qua mau như bóng ngựa lướt qua ngoài cửa sổ.

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Đi tìm một bản sử thi "Khun Chương" đầy đủ (10/9/2018)
Vấn đề Hồ Xuân Hương - Thử tiếp cận những bài thơ có gốc nguồn văn bản (31/8/2018)
Khoa học & công nghệ trong nông nghiệp ở Nghệ An: Cần có những tác động mới (31/8/2018)
Đội ngũ cán bộ không chuyên trách ở Nghệ An Thực trạng và giải pháp (31/8/2018)
Nghệ An cần tập trung phát triển chợ đầu mối (20/8/2018)
Hội thảo khoa học Phát triển thương mại - dịch vụ Nghệ An đến năm 2020, định hướng 2025 (20/8/2018)
Nghệ An cần làm gì để khoa học - công nghệ thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh phát triển mới? (15/8/2018)
Hội thảo khoa học Phát triển khoa học và công nghệ Nghệ An đến năm 2030 (15/8/2018)
Các bài văn cúng thông dụng của người xưa (13/8/2018)
Hội thảo Hình thức trình bày Tạp chí theo chuẩn quốc tế (8/8/2018)
Hội thảo khoa học: Những vấn đề lý luận và khung phân tích về biến đổi văn hóa, quản lý Nhà nước về văn hóa các tộc người thiểu số ở Việt Nam (8/8/2018)
Hội thảo phát triển nguồn nhân lực và xây dựng con người văn hoá Nghệ An đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển (6/8/2018)
Hội thảo khoa học “Giải pháp ứng dụng tri thức bản địa của người Thái vào phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An” (10/7/2018)
Hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Nghệ An (29/6/2018)
Hội thảo khoa học: Phát triển kinh tế xã hội miền Tây Nghệ An (22/6/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,186 | Tất cả: 1,422,286
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp