KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức trong - Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp
Tin đăng ngày: 31/8/2018 - Xem: 142
 

 

Hà Đăng

Upload

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu trí thức dự Hội nghị Chính trị đặc biệt tháng 3/1964

Trí thức là đội ngũ tinh hoa của một dân tộc, giữ vai trò tiên phong và cốt cán trong quá trình xây dựng và phát triển của một quốc gia. Trong các cuộc cách mạng, vai trò của đội ngũ trí thức lại càng thể hiện rõ ràng hơn. Nhưng không phải khi nào các chính sách của những người cầm quyền cũng phát huy được hết sức mạnh trí tuệ của đội ngũ trí thức. Một trong những nhân tố làm nên thành công của Cách mạng tháng 8/1945 và chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1946-1954) là Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người lãnh đạo đã có quan điểm và chính sách đúng đắn, tập hợp được đội ngũ trí thức, phát huy được sức mạnh trí tuệ của họ vào công cuộc giành độc lập dân tộc. Và những quan điểm đó không chỉ có giá trị quan trọng trong quá trình vận động cách mạng và lãnh đạo kháng chiến mà còn để lại nhiều bài học quý báu cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện tại và tương lai.

Vai trò của trí thức trong Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp không phải là một vấn đề mới mẻ trong nghiên cứu sử học. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau với những mục tiêu khác nhau. Những nghiên cứu công bố đã làm sáng rõ một số vấn đề quan trọng như nhận định về chính sách, đường lối đối với trí thức của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh giá vai trò của tầng lớp trí thức với cách mạng, hay về tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và sử dụng đội ngũ trí thức... Phần lớn các nghiên cứu khá thống nhất trong đánh giá vai trò của tầng lớp trí thức đối với cách mạng dân tộc, đề cao về đường lối chính sách đối với trí thức của Chính phủ Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, và cũng luôn đề cao tinh thần học tập, rút kinh nghiệm, bài học từ lịch sử cho hiện tại và tương lai đất nước, nhưng hơn nửa thế kỷ qua, một thực tiễn vẫn tồn tại hiện là chưa phát huy được vai trò, vị trí của tầng lớp trí thức trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Trong một cái nhìn đối sánh, bài viết này muốn gắn các bài học lịch sử với điều kiện hiện tại trong vấn đề đánh giá vai trò và chính sách phát huy sức mạnh trí tuệ của giới trí thức vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

1. Trí thức là tầng lớp tiêu biểu cho tinh thần dân tộc. Mỗi một người trí thức thường là đầu mối tập hợp các tầng lớp xã hội khác, đặc biệt là những người dân lao động. Trong các cuộc đấu tranh đều có in dấu ấn của những người trí thức và họ chính là lực lượng lãnh đạo trong các cuộc đấu tranh. Vậy nên, đối với trí thức, cần lấy tinh thần dân tộc là gốc để tập hợp các tầng lớp xã hội vây quanh những người trí thức làm nòng cốt cách mạng cũng như nòng cốt cho sự phát triển đất nước.

Trong Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp thì Chính phủ Hồ Chí Minh đã làm tốt việc này. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trí thức dân tộc tiêu biểu và là ngọn cờ đầu để tập hợp đội ngũ trí thức trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều đó thể hiện rõ khi thành lập chính phủ mới: một chính phủ liên hiệp và trí thức giữ vai trò chủ chốt. Trí thức trong Chính phủ Hồ Chí Minh cũng là một đội ngũ với nhiều nguồn gốc xuất thân và giáo dục khác nhau, từ những tri thức Nho giáo được đào tạo trong hệ thống giáo dục cũ như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố,... với các trí thức được đào tạo trong nền giáo dục Pháp như Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Phan Anh, Hoàng Tích Trí, Hoàng Minh Giám... Điểm chung của đội ngũ trí thức lúc bấy giờ là tinh thần dân tộc đang lên cao với tinh thần cách mạng và lòng yêu nước, sẵn sàng đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi tập hợp lực lượng, đặc biệt là tập hợp đội ngũ trí thức làm cách mạng đã xem tinh thần dân tộc là mẫu số chung, là sợi dây chủ đạo để liên kết các tầng lớp xã hội và tập hợp trí thức. Và kết quả là những người trí thức thế hệ Hồ Chí Minh đã có một cuộc dấn thân lịch sử, làm thay đổi vận mệnh dân tộc. Họ là những người lãnh đạo các phong trào cách mạng ở các địa phương và sau đó tham gia vào chính phủ mới - một chính phủ kiến tạo thật sự với sự tích hợp tri thức Đông -Tây và tinh thần dân tộc, tinh thần cách mạng.

Ngày nay, trí thức Việt Nam vẫn là những người có tinh thần dân tộc. Nhưng tinh thần dân tộc hiện tại khác xa với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, vị kỷ vốn một thời là nguyên nhân gây nên nhiều xung đột. Tinh thần dân tộc hiện nay là một tinh thần khai phóng, vừa gìn giữ, trân trọng hệ giá trị cơ bản của nền văn hóa dân tộc, vừa cởi mở để giao lưu, tiếp thu các giá trị văn hóa của các dân tộc khác, và tôn trọng sự đa dạng, sự khác biệt văn hóa. Và tinh thần dân tộc vẫn là mẫu số chung của giới trí thức hiện đại nhưng việc phát huy giá trị này lại đang có nhiều hạn chế. Chính phủ hiện tại đang kêu gọi xây dựng một thể chế có sức kiến tạo và quy tụ đội ngũ trí thức tinh hoa của dân tộc. Nhưng nó mới chỉ bắt đầu ở biểu hiện, ở mong muốn mà chưa có những hành lang pháp lý cụ thể cũng như sự cầu thị thật sự của những người lãnh đạo nên trí thức vẫn chỉ tham gia vào công việc đất nước một cách gián tiếp. Hay nói cách khác, sợi dây tinh thần dân tộc của giới trí thức đã bị cắt rời sau hàng chục năm và vẫn chưa có thể kết nối lại được như thời đại Hồ Chí Minh đã làm được từ ngày đầu lập quốc. Tinh thần dân tộc cần được kết hợp với tinh thần tự do, khai phóng, và muốn vậy thì các nhà lãnh đạo cũng cần có một sự cởi mở, khai phóng thật sự làm nền tảng cho quá trình tập hợp đội ngũ trí thức để phát huy nguồn lực trí tuệ của họ vào công cuộc phát triển đất nước.

2. Nói đến trí thức là nói đến nguồn lực trí tuệ của một cộng đồng, một quốc gia dân tộc. Tập hợp và sử dụng đội ngũ trí thức cần phải coi trọng thật sự nguồn lực trí tuệ của họ. Khi muốn phát huy vai trò của người trí thức thì nhất thiết phải lấy trí tuệ làm gốc, thật sự tôn trọng tài năng của họ trong việc kiến tạo chương trình phát triển của đất nước.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đội ngũ trí thức trong Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp là trân trọng tài năng, giao việc đúng tài và đúng người, bỏ qua thành phần xuất thân hay nguồn gốc tư tưởng. Và tư tưởng đó được thực hiện nghiêm túc, chứ không dừng lại ở sự tuyên truyền, cổ động. Trong thời điểm trước và sau Cách mạng tháng 8/1945, những người trí thức được đào tạo bài bản còn rất ít, lại khá rời rạc thì việc sử dụng nguồn lực trí tuệ của họ càng trở nên quan trọng. Nếu thực hiện không nghiêm túc thì người trí thức cũng thờ ơ hoặc quay lưng lại với cách mạng. Những câu nói được nâng tầm lên như một nghệ thuật dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà sau này còn được nhiều người nhắc đến như “biết việc này khó nên Bác phải giao cho chú làm mới yên tâm được...”. Nghệ thuật dùng người trí thức của Hồ Chí Minh dựa trên sự tôn trọng tài năng, trí tuệ, giao đúng việc đúng người và biết khích lệ, động viên người làm việc. Và kết quả là Chính phủ Hồ Chí Minh đã tập hợp được một loạt các trí thức danh tiếng vào việc kiến tạo, đặt nền tảng cho việc xây dựng chế độ mới từ các lĩnh vực khác nhau như Nguyễn Văn Huyên, Vũ Đình Hòe trong xây dựng nền giáo dục, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa trong xây dựng nền kỹ thuật quân sự, Hoàng Tích Trí, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng... trong xây dựng ngành y tế... Trong bối cảnh đất nước đang cần hiền tài, sự tin tưởng và trọng dụng trí thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phần nào giải quyết được bài toán về nguồn nhân lực mang tính kiến tạo cho một đất nước giành chính quyền và đang chống lại ngoại xâm. Sự coi trọng trí tuệ và trân trọng sức lao động của trí thức là một nhân tố làm cho những người trí thức đi theo Chính phủ Hồ Chí Minh qua chín năm kháng chiến và nhiều trí thức đã ngã xuống nhưng họ vẫn tin vào sự lựa chọn của mình.

Hiện nay, Đảng và nhà nước đang cố gắng đưa Việt Nam tiến vào nền kinh tế tri thức. Các đường lối chính sách phát triển đất nước đều hướng đến mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nền kinh tế tri thức. Nhưng để làm được điều đó thì tất yếu phải phát huy được nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức ở trong và ngoài nước. Về mặt đường lối, chính sách thì Đảng và nhà nước cũng đã có những quyết định liên quan đến việc xây dựng và phát huy nguồn lực từ giới trí thức cả về mặt đãi ngộ vật chất lẫn tinh thần. Nhưng dường như khoảng cách từ chính sách với thực tiễn đang khá xa nhau và tệ hại hơn là khoảng cách này ngày càng gia tăng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là nhà nước không thật sự trân trọng và sử dụng nguồn lực trí tuệ của đội ngũ trí thức. Điều này cũng cần nhìn nhận từ hai phía. Trước hết, từ người trí thức vẫn chưa thể hiện đầy đủ phẩm chất của con người trí tuệ thời đại và làm cầu nối để hội nhập. Trí tuệ của giới trí thức vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tạo thành một nguồn lực, nguồn vốn quan trọng để phát triển đất nước. Trong khi đó, nhiều người trí thức còn háo danh vọng, thiếu tinh thần tranh đấu cho sự tiến bộ và thiếu những trí tuệ thời đại. Ở phía lãnh đạo nhà nước cũng chưa thật sự sử dụng và trân trọng trí tuệ của người trí thức, ở nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề, nhà nước vẫn chỉ xem trí thức như những đồ trang sức để trưng bày cho chính sách liên minh các tầng lớp xã hội hơn là sử dụng trí tuệ của họ. Và tất nhiên là còn nhiều vấn đề khác, nhưng sự thiếu trân trọng trí tuệ của trí thức là một hạn chế khiến người trí thức bị hèn hóa, ít có điều kiện tham gia vào kiến tạo, hoạch định sự phát triển đất nước. Nó góp phần làm cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức càng xa vời hơn với tương lai đất nước. Một trong những bài học quan trọng trong sử dụng, xây dựng đội ngũ trí thức của Chính phủ Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp là sử dụng đúng tài năng với công việc, lấy tính hiệu quả làm trọng. Và bài học này gần như đối với hiện tại lại càng cần thiết và phải được vận dụng nghiêm túc, sáng tạo hơn.

3. Nói đến trí thức cũng là nói về vấn đề tư tưởng, người trí thức dù hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trình độ chuyên môn cũng khác nhau nhưng điểm chung của họ là có tư tưởng và đặt nhiều mối quan tâm đến tương lai đất nước. Vậy nên, một trong những điểm then chốt mang tính quyết định trong chính sách sử dụng và phát huy nguồn lực giới trí thức trong xây dựng, phát triển đất nước là giải quyết đúng đắn vấn đề tư tưởng.

Sau Cách mạng tháng 8/1945, Việt Nam phải thực hiện tiếp một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc trong chín năm liền nên vấn đề tư tưởng đối với giới trí thức không được quan tâm nhiều. Nói cách khác, cả nước đang phải tập trung sức lực vào chiến tranh chống xâm lược nên không ai quan tâm đến các việc khác không trực tiếp đến cuộc chiến tranh hiện tại. Và hơn nữa, trong thời điểm đó, tư tưởng chung của giới trí thức là tư tưởng dân tộc, đấu tranh đòi độc lập và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Đó là tư tưởng yêu đất nước Việt Nam, yêu con người Việt Nam, chưa có nguồn tư tưởng khác xen kẽ vào nguồn tư tưởng chủ đạo đó. Nhưng từ đầu những năm 1950, sau Chiến dịch Biên giới khai thông con đường giao thông Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa qua Trung Quốc thì câu chuyện tư tưởng bắt đầu được quan tâm dần. Đặc biệt sự xuất hiện của các cố vấn Trung Quốc trong các lĩnh vực quân sự, chính trị đã làm thay đổi nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề đấu tranh tư tưởng. Đây cũng là bước đầu chuyển từ tư tưởng dân tộc sang tư tưởng cộng sản, từ tư tưởng yêu nước sang tư tưởng yêu nước đi cùng với yêu chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong kháng chiến chống Pháp, tư tưởng dân tộc, yêu nước vẫn chiếm ưu thế và tập trung cho kháng chiến là tối ưu nên không có những xung đột về tư tưởng. Phải sau khi hòa bình lặp lại, trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thì vấn đề tư tưởng bắt đầu nóng lên cùng với việc đẩy mạnh đấu tranh giai cấp khiến nhiều trí thức bị hành xử không được trân trọng, thậm chí mất mạng qua những cuộc đấu tố trong cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản... Hệ quả của nó là nhiều người trí thức đã lên tiếng đấu tranh tư tưởng với các phong trào Nhân văn giai phẩm những năm 1950, chủ nghĩa xét lại những năm 1960... Cũng từ đó, giới trí thức Việt Nam bị phân hóa về tư tưởng và liên tục trong mấy thập kỷ không thể hiện được vai trò đầu tàu trong xây dựng đất nước. Hiện nay, một bộ phận trong giới trí thức Việt Nam đang vươn lên tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của nhân loại để truyền bá và góp phần phát triển đất nước. Nhưng góc độ nào đó, tư tưởng vẫn là một lĩnh vực độc quyền của Đảng nên việc xây dựng, tập hợp đội ngũ trí thức lại trở nên khó khăn hơn. Trong quá trình hội nhập và phát triển, chúng ta cần những tư tưởng tự do, tiến bộ, khai phóng của nhân loại, những tư tưởng mang tính nhân văn và phù hợp với văn hóa dân tộc để phát triển. Muốn xây dựng nền tư tưởng như vậy thì cần phải công nhận vai trò lãnh đạo của đội ngũ trí thức cũng như sử dụng nguồn lực trí tuệ của họ một cách nghiêm túc. Để làm được điều đó, cần trả lĩnh vực tư tưởng lại cho giới trí thức, trả quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận để trí thức góp phần vào hoạch định chiến lược phát triển đất nước.

4. Lấy trí thức làm đầu tàu để xây dựng và bảo vệ đất nước là một trong những điểm mấu chốt của tư tưởng Hồ Chí Minh và được đề cao trong cuộc Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp.

Dù vẫn công nhận giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo theo tinh thần của chủ nghĩa cộng sản nhưng trong thực tế thì lãnh đạo chính trong Chính phủ Hồ Chí Minh đều là những người trí thức. Và trí thức thực tế đã thể hiện được vai trò đầu tàu để xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn đó. Điều đó được thể hiện trong các lĩnh vực đều có dấu ấn của nhiều người trí thức lớn có ảnh hưởng cả trong kháng chiến chống Pháp đến những giai đoạn sau đó. Vai trò đầu tàu được thể hiện trước hết qua lĩnh vực đấu tranh giải phóng dân tộc, trong từng vấn đề và qua từng giai đoạn, ở các cấp độ khác nhau đều có những người trí thức lãnh đạo đi tiên phong. Từ đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao với vai trò nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng..., đấu tranh quân sự với vai trò của Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Sơn, Hoàng Văn Thái,... Những con người này vừa sử dụng trí tuệ mình có để tranh đấu, vừa sử dụng uy tín xã hội để tập hợp quần chúng trong cuộc tranh đấu đó. Một vai trò quan trọng khác của trí thức thời kháng chiến chống Pháp là đầu tàu kiến tạo, đặt nền móng cho các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội... trong chế độ mới. Dưới sự tập hợp của Hồ Chí Minh, những người trí thức lớn đều hăng hái tham gia vào quá trình xây dựng đất nước qua việc xây dựng các lĩnh vực quan trọng để phục vụ kháng chiến và kiến quốc. Nguyễn Văn Huyên và đồng nghiệp xây dựng nền giáo dục; Hoàng Tích Trí, Phạm Ngọc Thạch và cộng sự xây dựng nền y tế kháng chiến; Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Đặng Văn Ngữ xây dựng nền y học cách mạng; Đào Quy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trần Huy Liệu... xây dựng nền khoa học xã hội, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan trong xây dựng ngành nghiên cứu văn học,... Gần như các trí thức lớn lúc đó đều tham gia vào công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước (chỉ một số ít trí thức di cư vào Nam) và đặt dấu ấn quan trọng trong các lĩnh vực học thuật cũng như nền văn hóa. Họ đúng với tên gọi là những trí thức kháng chiến kiến quốc.

Trong xã hội hiện đại, trí thức ngày càng có vai trò lớn đối với sự phát triển xã hội. Một nghiên cứu, một phát hiện có thể làm thay đổi nhiều lĩnh vực, các quy trình sản xuất mới ra đời có thể thay sức lao động của hàng triệu người. Sức mạnh của tri thức ngày càng to lớn trong nền văn minh trí tuệ và những người trí thức là chủ nhân thật sự của nền kinh tế tri thức. Trí thức không chỉ là một nguồn lực mà còn là một nguồn của cải quý giá của một cộng đồng, một dân tộc. Nhưng không phải khi nào cũng phát huy được vai trò đầu tàu của người trí thức. Một thực tiễn là Việt Nam đang lúng túng trong việc sử dụng trí thức ở cương vị lãnh đạo, vai trò đầu tàu. Giới quyền lực vừa muốn sử dụng trí tuệ của trí thức trong các lĩnh vực nhất định, vừa sợ không đủ sức quản lý để giữ quyền lực của mình. Điều đó tạo nên một sự nửa vời trong đường lối, chính sách đối với giới trí thức trong phát triển xã hội. Đó cũng là một biểu hiện cho thấy dù bài học kinh nghiệm về sử dụng, đãi ngộ người trí thức trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được bàn đi bàn lại, nói đến thuộc làu nhưng việc thực hiện thì vẫn còn là một khoảng trống. Bên cạnh đó, cũng phải nhìn lại rằng giới trí thức Việt Nam hiện nay cũng thiếu những nhân cách lớn đóng vai trò kiến tạo trong các lĩnh vực. Với người trí thức, chẳng có môi trường nào là đủ để hoạt động, nhưng trong mọi hoàn cảnh cũng có thể tham gia vào công tác kiến tạo xã hội và góp phần xây dựng đất nước. Người trí thức thật sự không thể đẩy tất cả trách nhiệm cho sự yếu kém của cơ chế mà phải tự cởi trói cho mình để dành lấy vị trí đầu tàu trong phát triển xã hội.

5. Những bài học kinh nghiệm về quản trị con người, sử dụng trí thức trong xây dựng và bảo vệ đất nước mà Hồ Chí Minh để lại qua các giai đoạn khác nhau có những giá trị riêng không chỉ cho quá khứ mà còn cho hiện tại và tương lai.

Nhưng việc tuyên truyền và việc thực thi là hai câu chuyện khác nhau. Những bài học đó đã được đề cập rất nhiều lần trong thời gian dài nhưng việc thực thi thì rất hạn chế. Trong Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ tư tưởng đối với trí thức: Lấy tinh thần dân tộc làm sợi dây để tập hợp giới trí thức lại cùng chung mục tiêu xây dựng bảo vệ tổ quốc; Đối với người trí thức thì phải tôn trọng trí tuệ của họ, bỏ qua xuất thân, thành phần gia đình, phải tin tưởng khi giao việc quan trọng cho họ; Khi sử dụng trí thức phải tin tưởng, tôn trọng, giao đúng người đúng việc; Trí thức và tư tưởng có quan hệ mật thiết với nhau nên cần phải giải quyết vấn đề tư tưởng một cách đúng đắn. Có thể có nhiều nguồn tư tưởng khác nhau nhưng tư tưởng quan trọng là tinh thần yêu nước, yêu con người, yêu hòa bình; Trong mọi biến cố của dân tộc cũng như trong các giai đoạn phát triển, để xây dựng đất nước giàu mạnh và bảo vệ chủ quyền tổ quốc thì phải phát huy được vai trò đầu tàu của giới trí thức. Đó là những điểm cơ bản mà Hồ Chí Minh thể hiện trong việc tập hợp và sử dụng trí thức trong Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp. Hiện nay, vấn đề không phải là học tập kinh nghiệm (vốn đã được trình bày thường xuyên và liên tục trong mấy chục năm qua) mà là phải đưa vào thực tiễn cuộc sống. Làm thật sự để đạt hiệu quả tốt nhất. Với người trí thức, họ không chỉ nghe là đầy, được tôn vinh là đủ, mà cần làm sao để họ được cống hiến thật sự cho đất nước, cho nhân dân. Nếu không làm được điều đó thì họ cũng sẽ chán mà thờ ơ với tương lai nước nhà.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Chu Hảo: Thử tìm hiểu tầng lớp trí thức Việt Nam. Trên http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/thu_tim_hieu_tang_lop_tri_thuc_viet_nam.html. Ngày 21/6/2010.
  2. Nguyễn Văn Khánh: Trí thức Việt Nam trong thời kỳ chuẩn bị lực lượng và tiến hành tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2, năm 2009.
  3. Đỗ Long: Đặc điểm hình thành và xu hướng phát triển của tầng lớp trí thức Việt Nam, Tạp chí Xã hội học, số 1, 2 năm 1988.
  4. Nguyễn Thắng Lợi: Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ trí thức, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 7, 2009.
  5. Trường Lưu: Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, trên http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2008/1472/Xay-dung-va-phat-trien-doi-ngu-tri-thuc-Viet-Nam-ngang.aspx. Ngày 18/9/2008.
  6. Nguyễn Thế Thắng: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam, trên http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010087/0/35009/Tu_tuong_Ho_Chi_Minh_ve_xay_dung_doi_ngu_tri_thuc_Viet_Nam.
  7. Đoan Trang: Cách mạng tháng Tám: những con người làm nên lịch sử, Tuần Việt Nam, ngày 01/9/2014.
  8. Trịnh Văn Thảo: Ba thế hệ trí thức Việt Nam (1862-1954), Nxb. Thế giới, 2013.

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Ngô Thì Nhậm, người kế tục xứng đáng truyền thống văn chính luận Việt Nam trung đại (14/11/2018)
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia (9/11/2018)
Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng của Karl Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay (9/11/2018)
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc giảng dạy triết học Mác -Lênin tại Trường đại học Kinh tế Nghệ An hiện nay (11/9/2018)
Quan điểm của Xuân Diệu trước 1945 về tính dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại của văn học Việt Nam (10/9/2018)
Những người phụ nữ đi đầu trong “Tuần lễ vàng” (6/9/2018)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức trong - Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp (31/8/2018)
Lịch sử một dân tộc “dễ bị tổn thương” (31/8/2018)
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về Khoa học và công nghệ trong giai đoạn phát triển mới (28/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,632 | Tất cả: 1,508,692
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp