KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Tác động của tivi và những thay đổi trong quan hệ gia đình, cộng đồng của người Thái (Qua tư liệu Dự án ti vi tại huyện Quỳ Châu và Quế Phong, tỉnh Nghệ An
Tin đăng ngày: 13/8/2018 - Xem: 84
 

 

Vi Văn An

  1. Nhìn nhận lại quá trình phát triển miền Tây Nghệ An

Bao nhiêu năm nay, người ta nói về chiến lược phát triển tập trung quá nhiều vào yếu tố và mục tiêu kinh tế. Ở đây gần giống với chiến lược tăng trưởng kinh tế, tức là lấy các mục tiêu kinh tế làm trọng tâm cho quá trình hoạch định chiến lược phát triển. Vậy nên phần lớn nguồn vốn đầu tư cho quá trình phát triển miền Tây Nghệ An tập trung nhiều vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Việc đầu tư như vậy phần nào làm cho đời sống kinh tế - xã hội người dân thay đổi nhanh chóng, tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao hơn. Tuy nhiên, quá trình phát triển theo hướng lấy mục tiêu tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm cũng đem lại nhiều hệ quả không mong muốn đối với quá trình phát triển ở miền Tây Nghệ An.

Trước hết, các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, ô nhiễm, khó phục hồi lại được. Nhìn chung, sự phát triển kinh tế ở miền Tây Nghệ An trong mấy thập kỷ qua gắn liền với quá trình khai thác mạnh mẽ các nguồn tài nguyên thiên nhiên như các loại khoáng sản, lâm thổ sản, rừng, và gần đây là sự khai thác tài nguyên nước để xây dựng các nhà máy thủy điện. Rừng là tài nguyên quan trọng, không chỉ là hệ sinh thái tự nhiên mà còn là hệ sinh thái nhân văn quan trọng của các cộng đồng tộc người sinh sống ở miền núi. Tuy nhiên, từ giữa thế kỷ XX, cùng với sự di cư của người miền xuôi lên miền núi, chính sách xây dựng các lâm trường, nông trường thì việc khai thác rừng được đẩy mạnh. Hàng triệu khối gỗ quý bị chặt và chuyển về xuôi phục vụ xây dựng cơ bản. Hàng chục cánh rừng già bị triệt hạ, khai thác kiệt quệ. Phải đến những năm 1990, người ta mới nhận thức lại và tìm cách để trồng rừng, khôi phục lại môi trường sinh thái. Dù diện tích rừng trong mấy năm qua được tăng lên đáng kể, nhưng chủ yếu là rừng sản xuất, rừng mới với các loại cây như thông, keo, bạch đàn… Trong khi đó, rừng già không chỉ không được tái tạo mà vẫn tiếp tục bị mất do xây dựng thủy điện ào ạt. Các nguồn tài nguyên khoáng sản như thiếc, vật liệu xây dựng, than, đá quý… sau bao nhiêu năm tiến hành khai thác ồ ạt nay trữ lượng còn ít, hiệu quả thấp do chủ yếu khai thác và bán sản phẩm thô. Tài nguyên nước trước đây khá dồi dào cả về nước mặt và nước ngầm. Nhưng sau khi diện tích rừng bị giảm thì nguồn nước ngầm cũng bị hạn chế, nguồn nước mặt thì ngày càng bị ô nhiễm nhiều hơn do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và cả thủ công nghiệp. Đã vậy, dòng chảy của các con sông cũng bị can thiệp nhiều do các công trình thủy điện. Tài nguyên nước bị hạn chế, ô nhiễm và bị can thiệp mạnh quá gây nên nhiều mối nguy hiểm đến đời sống sinh hoạt và sản xuất, từ thiếu nước tưới tiêu cho đồng ruộng, hạn hán đến những trận lũ lụt gây hậu quả nặng nề.

Thứ hai là trong khi kinh tế phát triển chưa nhanh và chưa bền vững nhưng văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số bị mai một, mất mát nhanh chóng. Đây là một trong những hệ quả nặng nề của các chiến lược phát triển miền Tây Nghệ An trong mấy thập kỷ qua. Miền Tây Nghệ An được biết đến như một rừng hoa về văn hóa tộc người mà ở đó mỗi dân tộc, mỗi nhóm địa phương, mỗi cộng đồng là một bông hoa sặc sỡ mang đậm nét văn hóa dân tộc. Nhưng rồi các chính sách phát triển giống như các tác nhân lai tạo đã biến cả rừng hoa đa dạng, sặc sỡ đó ngày càng bị đồng hóa, đồng dạng và giảm tính đa dạng về bản sắc văn hóa. Nhiều yếu tố văn hóa truyền thống của người dân tộc thiểu số bị mai một, mất mát theo thời gian. Từ hệ thống tri thức dân gian, các điệu múa, bài hát, các phong tục tập quán, lễ hội, cưới hỏi, ma chay đến các bộ trang phục truyền thống đều bị biến đổi mạnh mẽ. Nhưng hơn hết, đó là những thay đổi to lớn trong suy nghĩ, tư duy của người dân tộc thiểu số. Trong khi những người lớn tuổi vẫn hoài niệm và muốn níu kéo, phục hưng lại các giá trị văn hóa truyền thống thì những người trẻ tuổi lại lãnh đạm với văn hóa truyền thống và chạy theo các giá trị văn hóa hiện đại mà thực tế là các giá trị văn hóa từ miền xuôi tràn lên. Những giá trị văn hóa truyền thống bị mất mát đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống hiện tại của các cộng đồng tộc người. Những người già cảm thấy hẫng hụt, cô đơn trong đời sống văn hóa vì thiếu các sinh hoạt văn hóa truyền thống. Những người trẻ cũng không thể tìm lại với các giá trị văn hóa truyền thống nhưng cũng chưa đi đến với các giá trị văn hóa hiện đại được nên hình thành một tâm thế lưng chừng trong văn hóa cộng đồng. Nó làm cho quá trình tái tạo truyền thống văn hóa cũng như tiếp thu và tích hợp các giá trị văn hóa mới trở nên khó khăn hơn bội phần.

Thứ ba, kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển nhưng lợi ích lại thuộc về người miền xuôi lên nhiều hơn trong khi người bản địa vẫn chưa tìm được con đường thích hợp để đi vào thị trường. Một thực tế là trong gần ba thập kỷ qua, kinh tế thị trường ở miền núi phía Tây Nghệ An đã bắt đầu phát triển sau nhiều năm tháng xây dựng nền kinh tế bao cấp. Thực chất, trước đó kinh tế hàng hóa đã hình thành và phát triển đến một mức độ nhất định. Nhưng sau đó bị hạn chế dần và phải sau khi đổi mới thì kinh tế hàng hóa mới hồi sinh và phát triển mạnh mẽ hơn. Với sự hình thành kinh tế thị trường, nền kinh tế ở miền núi trở nên năng động hơn và tốc độ tăng trưởng cũng không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, một điều rõ ràng là các doanh nghiệp, các đại lý cũng như những buôn bán nhỏ lẻ phần lớn là những người từ dưới xuôi lên. Các đầu mối quan trọng để vận hành kinh tế thị trường ở miền núi vẫn do người miền xuôi nắm giữ. Nói cách khác là kinh tế thị trường ở miền núi Nghệ An vẫn phụ thuộc nhiều vào người miền xuôi lên. Còn đồng bào dân tộc thiểu số đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thị trường. Họ thiếu vốn tài chính, thiếu mạng lưới xã hội, thiếu các kỹ năng, kiến thức về kinh tế thị trường, thiếu cả các chính sách hỗ trợ phát triển có hiệu quả từ phía nhà nước… Trong đó, có một cái thiếu quan trọng chính là sự trải nghiệm kinh tế thị trường của người dân còn hạn chế. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho kinh tế phát triển nhưng đời sống người dân bản địa vẫn còn khó khăn, văn hóa truyền thống tộc người còn bị mai một, mất mát.

Như vậy, có thể thấy rằng, chiến lược phát triển miền Tây Nghệ An lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm dù đã đạt được những kết quả đáng kể nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Đã đến lúc phải nghiêm túc xem xét lại vấn đề hoạch định chiến lược cho sự phát triển miền Tây dựa trên quan điểm phát triển bền vững và phù hợp với các địa phương cụ thể. Muốn vậy cần phải nhấn mạnh đến mục tiêu của chiến lược phát triển. Trong đó, thiết nghĩ cần thay đổi mục tiêu trọng tâm, từ phát triển để tăng trưởng kinh tế sang phát triển miền Tây Nghệ An để bảo tồn văn hóa tộc người và bảo vệ an ninh quốc gia. Coi sự hài hòa trong quá trình phát triển là vấn đề quan trọng nhất, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn, bảo vệ an ninh quốc phòng, bảo tồn văn hóa tộc người. Để làm được điều đó, cần coi trọng và phát huy được nguồn lực văn hóa của các cộng đồng tộc người trong quá trình phát triển.

  1. Thực trạng nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An

Miền núi phía Tây Nghệ An là một địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Ngoài các dân tộc như Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Thổ thì ở miền núi còn có các nhóm nhỏ là người các dân tộc thiểu số ở nơi khác mới di cư đến với số lượng mấy chục đến hơn trăm người, như nhóm người Nùng ở xã Yên Khê (Con Cuông)… Các dân tộc thiểu số ở miền núi Nghệ An sau hàng trăm năm tụ cư, sinh sống và phát triển đã tạo ra những nền văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa tộc người. Tuy nhiên, trong bài viết này không cố gắng đi mô tả hay diễn giải về các bản sắc văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An, mà chủ yếu tập trung vào việc nhìn nhận các giá trị văn hóa truyền thống tộc người trên phương diện là một nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội dựa vào quan điểm phát triển miền Tây Nghệ An để bảo tồn văn hóa truyền thống và bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường.

Trong nhiều thập kỷ qua, những nhà nghiên cứu khi tiến hành các hoạt động sản xuất tri thức khoa học liên quan đến văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An thường đi vào mô tả và lý giải các hoạt động văn hóa của các cộng đồng bản địa, hay đi tìm nguồn gốc tộc người từ các yếu tố văn hóa. Những nghiên cứu này có vai trò quan trọng trong việc nhận dạng các nhận thức các giá trị văn hóa truyền thống tộc người. Đây cũng là điều cần thiết để bước vào việc hoạch định các chiến lược phát triển liên quan đến miền núi. Tuy nhiên, khi thực hiện quá trình xây dựng chính sách thì những nhà quản lý chưa coi trọng đến các kết quả nghiên cứu khoa học về văn hóa các cộng đồng ở miền Tây Nghệ An. Và hệ quả thì nhiều người đã thấy, quá trình phát triển đã phải đánh đổi lại là sự mất mát, mai một văn hóa tộc người và làm cạn kiệt, ô nhiễm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nói vậy không có nghĩa là cứ quan tâm đến văn hóa thì có thể giải quyết được hay tránh được các vấn đề này. Vấn đề ở chỗ cần phải nhìn nhận yếu tố văn hóa ở vị thế nào cho hợp lý trong quá trình phát triển. Muốn vậy, cần phải nhận định đúng được đặc điểm của yếu tố văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An với tư cách là một nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội. Xin được đưa ra vài ý kiến mang tính tham khảo, vì đây là vấn đề phức tạp và cần nhiều nghiên cứu công phu hơn chứ không phải trong một bài viết.

Trước hết, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An rất đa dạng và phong phú. Ít có địa phương nào có được sự đa dạng và phong phú về văn hóa tộc người như miền núi phía Tây Nghệ An. Về số lượng dân tộc, có lẽ có nhiều địa phương còn có nhiều dân tộc cư trú hơn Nghệ An. Tuy nhiên, ở đây không chỉ đa dạng về văn hóa tộc người mà còn phong phú, phức tạp về sắc thái các cộng đồng riêng. Người Thái ở Nghệ An phân chia thành các nhóm địa phương với những nét văn hóa khác nhau. Vậy nên nói đến văn hóa dân tộc Thái ở Nghệ An, một mặt cũng có những đặc điểm chung của người Thái Việt Nam, mà nhiều yếu tố giống với người Thái ở Tây Bắc. Tuy nhiên, còn nhiều nét văn hóa mang tính địa phương mà các nhóm địa phương khác nhau đã hình thành và phát triển riêng. Nó làm cho văn hóa Thái trở nên đa thanh đa sắc hơn. Rồi các tộc người khác cũng khá đa dạng. Dân tộc Thổ bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau mang các sắc thái văn hóa khác biệt. Xem xét ở các cộng đồng dân tộc riêng biệt thì mỗi cộng đồng đều sở hữu một di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể đa dạng với nhiều giá trị độc đáo. Đó là sự đa dạng, phong phú về văn hóa tộc người, một nguồn lực quan trọng để phát triển nếu có chiến lược phát triển, phát huy nguồn lực này hợp lý. Và ngược lại, nếu không thì đây lại trở thành một sự phức tạp, khó giải quyết các mâu thuẫn, xung đột văn hóa.

Thứ hai, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An rất khó để vận dụng vào quá trình phát triển. Như đã phân tích ở trên, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An rất đa dạng và phong phú. Nhưng cũng vì vậy mà nó tạo thành sự phức tạp, hỗn độn, khó nhận thức và đặc biệt là khó vận dụng vào quá trình phát triển. Trước đến nay, chúng ta thường xây dựng những chính sách phát triển mang tính chung, của toàn quốc, hoặc của địa phương, gắn với các địa giới hành chính mà quên rằng văn hóa luôn đan xen vào nhau. Vậy nên, sự phức tạp về văn hóa trong bối cảnh bị quy định bởi các khung chính sách chung thì sẽ khó để vận dụng, phát huy vào quá trình phát triển. Trong khi đó, việc xây dựng các chính sách mang tính đặc thù cho từng cộng đồng, từng đối tượng tộc người ở địa phương lại gặp nhiều khó khăn. Vậy nên về cơ bản, yếu tố văn hóa tộc người ở đây vẫn ở dạng nguồn lực tiềm năng cho quá trình phát triển và đang chờ từng cơn gió mới để phất lên, góp phần vào quá trình phát triển của cộng đồng, của địa phương.

Thứ ba, nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An đang bị mất đi nhanh chóng. Điều này không cần phải phân tích nhiều khi mà các lập luận phía trên đã chứng minh điều đó. Ở đây chỉ nhấn mạnh một điều, nếu không kịp thời điều chỉnh thì đến một lúc nào đó, nguồn lực văn hóa tộc người sẽ bị mất mát hết, và khi đó, không chỉ địa phương mất đi một nguồn lực phát triển, mà còn mang thêm một gánh nặng trong quá trình phát triển.

  1. Phát huy nguồn lực văn hóa tộc người vào quá trình phát triển miền Tây Nghệ An

3.1. Văn hóa tộc người là một nguồn vốn

Từ trước đến nay, người ta vẫn quan niệm về “vốn” như là một cái gì đó đem ra chỉ để mua bán, trao đổi trong kinh tế thị trường. Và nhiều quan điểm xem nó như là một cái gì đó làm xấu đi các giá trị văn hóa. Vậy nên, hoặc nhiều người chỉ coi vốn là tiền bạc, hoặc có người coi vốn là những thứ đem ra buôn bán, và là những giá trị gì đó không bền vững trong cộng đồng. Những quan niệm trên không phải hoàn toàn sai. Vốn đúng là những thứ có thể luân chuyển để tạo ra lợi nhuận. Nhưng nó không phải là cái gì đó làm mai một giá trị văn hóa. Các giá trị văn hóa chân chính, khi được vận dụng, luân chuyển hợp lý vẫn tạo ra lợi nhuận và vẫn giữ được bản chất và giá trị của nó. Đó là vốn văn hóa. Khái niệm vốn văn hóa được nhà xã hội học Pháp, Pierre Bourdieu đưa ra từ những năm 60 của thế kỷ trước và sau đó có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Trải qua nhiều thảo luận từ nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau, khái niệm vốn văn hóa dần hoàn thiện hơn, đa dạng hơn và ngày càng được mở rộng hơn. Dù mang những sắc thái, các lớp giá trị khác nhau, nhưng chung lại thì khái niệm vốn văn hóa nhấn mạnh một số điểm: văn hóa cộng đồng là một loại vốn, và như bao nhiêu loại vốn khác là nó có thể luân chuyển, tham gia vào thị trường và tạo ra lợi nhuận. Vốn văn hóa có thể tồn tại theo nhiều trạng thái khác nhau tùy theo cách phân chia của các nhà nghiên cứu. Từ sự phân chia trạng thái thể hiện, trạng thái khách quan và trạng thái thể chế của   Bourdieu đến các phân chia như trạng thái vật thể và phi vật thể, trạng thái vật chất và tinh thần… Tuy nhiên, dù cách phân chia nào thì cũng mang tính chất tương đối vì vốn văn hóa cũng là một khái niệm trừu tượng. Nhưng nhìn nhận văn hóa là một loại vốn để có sự tỉnh táo trong quá trình xem xét, hoạch định chính sách để đưa nguồn lực văn hóa vào quá trình phát triển. Bởi quan niệm văn hóa không phải là thứ có thể đem ra trao đổi, buôn bán vẫn ăn sâu vào đầu óc nhiều người nên cần phải nhận thức lại vấn đề này để cởi mở hơn về văn hóa trong quá trình phát triển.

3.2. Đầu tư đồng bộ các nguồn vốn và chú trọng đến vốn văn hóa

Theo khung sinh kế bền vững đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm thì tài chính chỉ là một trong số các nguồn vốn đầu tư cho quá trình phát triển. Bên cạnh đó còn có vốn vật chất, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên. Tuy nhiên, cả khung sinh kế bền vững cũng chưa đầy đủ khi bỏ qua một nguồn vốn quan trọng là vốn văn hóa. Đặc biệt, trong xã hội đa văn hóa, đa tộc người như Việt Nam thì vốn văn hóa càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các cộng đồng nói riêng, của đất nước nói chung. Trong quá trình đầu tư, chúng ta khó có thể xem loại vốn nào quan trọng hay không quan trọng, vấn đề phụ thuộc vào tình hình cụ thể của từng khu vực, từng địa phương và từng cộng đồng. Tuy nhiên, để có được sự phát triển mang tính bền vững, cần có sự đầu tư đồng bộ về các loại vốn trong quá trình phát triển. Một thực tế là trong nhiều năm qua, đầu tư phát triển miền núi thiên về đầu tư vốn tài chính, vốn vật chất. Mặt được của nó là cơ sở hạ tầng được nâng cao. Nhưng nó lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nguồn vốn khác, như làm cho vốn tự nhiên bị khai thác cạn kiệt, vốn xã hội không được phát huy và vốn văn hóa bị mai một.

Để phát triển miền núi, vùng dân tộc thiểu số ở Nghệ An, ngoài việc đầu tư đồng bộ các loại vốn nhằm đảm bảo tính bền vững cho quá trình phát triển, còn cần phải chú trọng đến vốn văn hóa tộc người. Trên quan điểm phát triển để bảo tồn, phát triển để bảo vệ thì vốn văn hóa chính là đối tượng của sự phát triển thông qua các mối quan hệ khác nhau mà con người là trung tâm và bảo vệ bản sắc văn hóa cũng là bảo vệ con người. Muốn vậy, cần phải có chính sách, chiến lược bảo tồn các bản sắc văn hóa tộc người ở các cộng đồng, hạn chế sự mất mát, mai một về văn hóa. Tiếp đó là xây dựng các chính sách phát triển cụ thể nhằm phát huy nguồn vốn văn hóa vào quá trình phát triển. Như vậy, phát triển phải gắn với bảo tồn văn hóa tộc người và bảo tồn là để tạo nguồn lực cho quá trình phát triển.

3.3. Kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa

Với kinh tế di sản, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản đó là lĩnh vực kinh tế phát triển dựa vào nguồn lực di sản văn hóa, tức là phát huy các giá trị văn hóa của các di sản làm động lực để phát triển kinh tế. Về thực tiễn, việc phát triển kinh tế từ các giá trị di sản đã được người ta quan tâm từ lâu, nhưng để hình thành một thuật ngữ, một lĩnh vực riêng thì đây vẫn còn là điều mới lạ ở Việt Nam. Như đã phân tích ở trên, vùng miền núi Nghệ An có một hệ thống di sản văn hóa tộc người đa dạng và phong phú. Phát triển kinh tế di sản có thể là một hướng đi khả dĩ và phù hợp để đạt được mục tiêu vừa phát triển kinh tế vừa bảo tồn văn hóa tộc người. Nhưng đó là lý thuyết. Trên thực tế, phát triển kinh tế là vấn đề phức tạp và khó khăn hơn nhiều. Nó cần nguồn vốn tài chính lớn và thu hồi lâu nên ít nhận được sự quan tâm. Dù kinh nghiệm từ nhiều nước phát triển kinh tế di sản mạnh mẽ cho rằng đầu tư vào lĩnh vực di sản văn hóa là cách đầu tư mang lại nhiều lợi nhuận hơn người ta nghĩ và hơn nhiều việc đầu tư vào các ngành nghề khác. Mặt khác, để phát triển kinh tế di sản ở miền núi cũng cần quan tâm đến mục tiêu cuối cùng là bảo tồn văn hóa. Vì kinh tế di sản mang lại lợi nhuận khá cao nên dễ đưa người ta chạy theo lợi nhuận mà vứt bỏ mục tiêu quan trọng nhất của kinh tế di sản. Đó là một thách thức không nhỏ.

Công nghiệp văn hóa cũng là một thuật ngữ mới nổi lên gần đây và được nhà nước xây dựng thành chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa mang tầm quốc gia. Ở Nghệ An, tháng 4/2017, tỉnh đã ban hành Kế hoạch “Triển khai chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 của tỉnh Nghệ An”. Đây là sự khẳng định cho đường hướng phát triển kinh tế di sản cũng như sự đầu tư vào lĩnh vực văn hóa của tỉnh nhà. Tuy nhiên, trên thực tế, gần như chưa có nhiều biến đổi quan trọng so với trước đây về nhiều mặt. Nên vẫn chưa có ngành nào đáp ứng các tiêu chuẩn để trở thành ngành công nghiệp văn hóa theo đúng khái niệm của nó. Nhưng để công nghiệp hóa văn hóa các giá trị văn hóa tộc người ở Nghệ An vẫn là bài toán khó cho mọi cấp quản lý. Thứ nhất, không phải giá trị văn hóa nào cũng có thể công nghiệp hóa được. Thứ hai là có những yếu tố văn hóa có lợi thế về công nghiệp hóa nhưng khả năng biến đổi lại cao và ảnh hướng đến các giá trị văn hóa khác. Thứ ba là công nghiệp hóa văn hóa cần có tầm nhìn xa, nó là tổng tích hợp nhiều yếu tố khác nhau với tầm nhìn sâu rộng nên không dễ để làm ngay, làm nhanh được. Trong khi thói quen của nhiều cán bộ là thấy cái gì mới, cái gì có triển vọng và được bộ máy nhà nước ủng hộ thì lao vào làm mà chưa rõ bản chất của vấn đề là gì. Vậy nên công nghiệp hóa văn hóa là câu chuyện cần thảo luận kỹ lưỡng, và phải kết hợp với thủ công nghiệp hóa văn hóa trước, sau đó mới có những bước đi rõ ràng, cụ thể hơn.

Nói tóm lại, kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa là những gợi mở cho chiến lược phát huy nguồn lực văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Có điều, làm sao vận dụng các khái niệm, các quan điểm hay tiêu chí này vào quá trình phát triển thì là câu chuyện khác. Nó cần xem xét các hình thức xây dựng các mô hình, các đường hướng phát triển hợp lý hơn cho từng địa phương, từng cộng đồng.

3.4. Một số hình thức khai thác, phát huy nguồn lực văn hóa

Đây là câu chuyện quan trọng, là những mô hình tổ chức sản xuất hay những định hướng, những con đường để phát triển kinh tế - xã hội dựa trên nguồn lực văn hóa tộc người ở miền núi Nghệ An. Nhìn từ thực tế hiện tại, câu chuyện đưa văn hóa thành nguồn lực kinh tế đã được khai thác trên nhiều phương diện khác nhau. Xin đề cập đến một số hình thức cụ thể:

Trước hết, đó là phát triển du lịch văn hóa. Chẳng phải lạ lẫm gì với khái niệm du lịch văn hóa khi mà mấy thập niên qua, ngoài sự phát triển du lịch gắn với các yếu tố thắng cảnh tự nhiên là vấn đề khám phá các nền văn hóa. Nếu thưởng thức, ngắm cảnh tự nhiên thu hút các khách du lịch ngắn hạn thì du lịch văn hóa lại có sức hút với các khách du lịch muốn tìm hiểu các nền văn hóa trong thời gian dài ngày. Ở đó du khách muốn được trải nghiệm, chiêm nghiệm và tham gia vào các sinh hoạt văn hóa, ngoài khám phá tự nhiên thì họ còn khám phá về văn hóa, con người bản địa. Giữ du khách lại dài ngày là cơ hội, là yếu tố cơ bản để kiến tạo các nguồn thu ổn định và lớn hơn so với việc đón các du khách chỉ đến ngắm cảnh tự nhiên. Sự phát triển du lịch dựa trên các lễ hội, các phong tục tập quán của các cộng đồng đã được khai thác khá lâu. Gần đây là sự phát triển của du lịch cộng đồng. Thực chất đây là sự phát triển du lịch dựa vào yếu tố văn hóa, đây có thể coi là một cách phát triển kinh tế di sản. Tuy nhiên, ở Nghệ An, du lịch cộng đồng vẫn còn hạn chế, đang thiếu vắng nhiều yếu tố trải nghiệm văn hóa. Nói cách khác vẫn chỉ là cách khai thác nguồn lực văn hóa truyền thống trong phát triển du lịch, nó chưa thổi vào luồng gió mới mang tính trải nghiệm khi mà du khách đến và đi trong quỹ thời gian eo hẹp, chưa đủ để khám phá, tìm hiểu các giá trị văn hóa tộc người.

Thứ hai là quá trình thương mại hóa các giá trị văn hóa tộc người, mà điển hình là thương mại hóa các tri thức dân gian các dân tộc thiểu số. Điểm nổi bật nhất chính là thương mại hóa các tri thức dân gian về y học, dược học. Những hoạt động này, ở góc độ nào đó là một thể hiện cho quá trình công nghiệp hóa văn hóa các dân tộc thiểu số. Tri thức dân gian của các cộng đồng vốn có từ bao đời, nay được một số doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế cộng đồng sử dụng kỹ thuật công nghệ vào để sản xuất thành hàng hóa đưa ra thị trường. Hàng loạt các sản phẩm được chiết xuất từ các tri thức dân gian của các cộng đồng được đưa ra thị trường và qua quá trình trao đổi đã sản xuất ra hàng trăm tỷ đồng cho những người đầu tư. Điều đó góp phần nâng cao cuộc sống của nhiều người. Nhưng hầu hết lợi ích lại rơi vào tay các doanh nghiệp, mà chủ yếu là dưới xuôi lên đầu tư phát triển. Vậy nên, về mặt lâu dài, sự chia sẻ lợi ích không hợp lý sẽ gây ra nhiều vấn đề xã hội khác nhau, trong đó vấn đề xung đột lợi ích nhóm, lợi ích tộc người là vô cùng nguy hiểm.

Bên cạnh đó, còn nhiều hình thức khác trong quá trình khai thác các nguồn lực văn hóa vào phát triển kinh tế. Tuy nhiên, câu chuyện hiệu quả cũng như sự hài hòa lợi ích cộng đồng trong quá trình phát triển lại trở nên nguy cấp hơn hết. Đó cũng là vấn đề quan trọng trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển miền núi.

3.5. Thị trường hóa văn hóa và văn hóa hóa thị trường

Một câu chuyện tưởng chừng như cũ kỹ, được coi là “cũ như trái đất”, nhưng thực tế chưa bao giờ cũ ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số. Kinh tế hàng hóa đã phát triển ở nhiều dân tộc thiểu số trước khi có sự tương tác của người Kinh dưới xuôi lên. Tuy nhiên, sau đó, với sự phát triển của kinh tế hợp tác xã, kinh tế hàng hóa ở miền núi bị hạn chế. Sau đổi mới, nó mới trỗi dậy và phát triển. Ngày nay, kinh tế thị trường đang ngày càng thống trị kinh tế ở miền núi với các mức độ khác nhau. Kinh tế thị trường phát triển ở miền núi, kéo theo hai quá trình đi song song với nhau, đó là quá trình thị trường hóa văn hóa và quá trình văn hóa hóa thị trường.

Thị trường hóa văn hóa là quá trình đưa các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng vào phát triển kinh tế thị trường. Nó làm cho các giá trị văn hóa luôn được luân chuyển, tạo ra lợi nhuận. Nhưng cũng đẩy các giá trị văn hóa vào sự biến đổi sâu sắc, mà nếu không có định hướng hợp lý thì sẽ làm mai một các giá trị văn hóa truyền thống. Quá trình thị trường hóa văn hóa thể hiện khá rõ ràng khi hầu hết các giá trị văn hóa cộng đồng đang ngày càng tham gia vào thị trường, từ kinh tế di sản, công nghiệp hóa văn hóa, thủ công nghiệp theo thị trường. Kể cả các giá trị phi vật thể cũng ngày càng tham gia vào thị trường hơn qua nhiều hoạt động thương mại khác nhau. Thị trường hóa văn hóa không xấu như người ta vẫn nghĩ nếu như có sự định hướng, đặc biệt là sự chủ động của người dân bản địa khi gia nhập thị trường.

Ngược lại với thị trường hóa văn hóa là quá trình văn hóa hóa thị trường. Đây là cách thức vận dụng thị trường vào phát triển kinh tế - xã hội hợp với tình hình, đặc trưng văn hóa tộc người. Nghe có vẻ đơn giản nhưng lại vô cùng khó khăn khi mà văn hóa hóa thị trường cần một nội lực rất mạnh. Ở đây, các chính sách của nhà nước chỉ mang tính mở đường, còn thành bại lại phụ thuộc vào năng lực của chủ thể văn hóa. Văn hóa hóa thị trường là điều chỉnh kinh tế thị trường sao cho vừa phát triển kinh tế, vừa bảo tồn được bản sắc văn hóa tộc người mình. Muốn làm được điều này, cần tăng cường phát triển năng lực trải nghiệm thị trường của người dân bản địa. Bên cạnh đó cần kiến tạo tâm thế vững chãi cho người dân trong quá trình phát triển. Muốn vậy, cần trả lại quyền tự quyết về văn hóa, phát triển cho cộng đồng người dân bản địa, để họ chủ động khi tham gia thị trường cũng như phân chia lợi ích trong phát triển thị trường.

  1. Một vài gợi mở

Trước hết, để phát triển bền vững miền núi phía Tây Nghệ An, cần thay đổi quan điểm phát triển, từ quan điểm phát triển lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm sang quan điểm phát triển để bảo tồn văn hóa tộc người, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ tài nguyên môi trường. Đó là cơ sở nền tảng để hoạch định các chiến lược phát triển miền núi Nghệ An.

Tiếp theo cần nhận thức lại vai trò của các yếu tố văn hóa tộc người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Phải xem văn hóa là nguồn lực, là nguồn vốn để phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó có sự đầu tư các nguồn vốn một cách hợp lý trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Để làm được điều đó cần nhận thức rõ hơn về thực trạng nguồn lực văn hóa tộc người ở miền Tây Nghệ An.

Để phát huy nguồn lực văn hóa tộc người vào quá trình phát triển miền Tây Nghệ An cần có nhiều vấn đề, nhiều hình thức. Và mọi hình thức, mỗi quan điểm đều chỉ là gợi mở, còn thực tế cần nhìn vào thực trạng cụ thể của từng cộng đồng, địa phương. Tuy nhiên, cái quan trọng hơn, quyết định hơn là tâm huyết, tư duy của những người làm hoạch định chiến lược phát triển. Mà điều này thì phải xem xét cả hệ thống các vấn đề liên quan. Vậy nên tất cả các phân tích về mặt lý thuyết, nói cho cùng là sự gợi mở, còn lại cần sự tâm huyết, nghiêm túc từ bộ máy quản lý. Nói vậy không phải coi nhẹ kết quả nghiên cứu của các nhà chuyên môn, mà vấn đề là sự tích hợp tâm huyết, sức lực của các bên liên quan trong quá trình phát triển. Phát triển, là sự tương tác tích cực và tổng hợp các thế lực và nguồn lực liên quan.

 

 

 

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Khoa học và công nghệ tạo đột phá trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp (4/12/2018)
Kinh tế Nghệ An sẽ thích ứng như thế nào trước cách mạng công nghiệp 4.0 (4/12/2018)
Học tập và vận dụng tấm gương tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/11/2018)
Nhân tính, Quốc tính và Cá tính (28/11/2018)
Giáo dục Mới tại Việt Nam: Những nhà tiên phong thể nghiệm (23/11/2018)
Giáo dục lương tâm? (23/11/2018)
Ngô Thì Nhậm, người kế tục xứng đáng truyền thống văn chính luận Việt Nam trung đại (14/11/2018)
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia (9/11/2018)
Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng của Karl Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay (9/11/2018)
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,150 | Tất cả: 1,552,726
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp