ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > NON NƯỚC XỨ NGHỆ
Trai làng Nha Môn
Tin đăng ngày: 8/8/2018 - Xem: 21
 

                                                                                    Th.s: Bùi Đình Sâm

                                                                                  (Sưu tầm và biên soạn)

     Làng Nha Môn thuộc xã Hồng Long, Nam Đàn, Nghệ An, nơi có nhiều đền, chùa, miếu, kinh tế, xã hội phát triển khá sớm. Nha Môn vùng đất giáp Nghệ An và Hà Tĩnh, nơi đoạn cuối con sông Cả - vùng Nam Nghệ - Bắc Hà - một trong những vùng quê địa linh nhân kiệt hàng đầu của nước ta đã sản sinh ra hai Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du (thế kỷ 18) và Hồ Chí Minh – Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của thời đại (thế kỷ 20).

    Truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng của quê hương, đất nước cũng như những yếu tố của gia đình, dòng họ đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành những phẩm chất yêu nước và cách mạng của trai làng Nha Môn.

  1. Xuất dương hoạt động yêu nước.
  2. Ông Nguyễn Tự Cường ( 1905 – 1984 )

Gia đình ông giàu có với hai tòa nhà ngói to, cao, gạch lát hoa màu đen trắng, các thứ đồ sinh hoạt gia đình như bàn, ghế, tủ, gường đều loại gỗ tốt..., nhìn chung sinh hoạt rất quí tộc. Gia đình có điều kiện, nên ông được theo học sớm chữ Hán, chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Khi phong trào Đông Du phát triển mạnh, tác động mạnh mẽ đến tầng lớp thanh niên Nghệ Tĩnh, trong đó có thanh niên làng Nha Môn. Vì thế, ông Cường sớm giác ngộ và quyết định xuất dương theo các sĩ phu đương thời ra nước ngoài hoạt động. Ông sang Thái Lan hoạt động được một thời gian thì nhận được tin nhà vợ ông bị bệnh nặng. Trở về nước chăm sóc vợ, nhưng do bệnh tình của vợ quá nặng nên ông đành phải ở lại quê nhà. Mặc dù không trực tiếp hoạt động ở nước ngoài nhưng ông vẫn thường xuyên liên hệ và có những đóng góp nhất định. Ông sinh được 6 người con, 3 trai 3 gái. Các con ông đều thoát ly làm việc nhà nước, trong đó có 1 liệt sĩ chống Mỹ. Ông mất năm 1984, hưởng thọ 79 tuổi.

  1. Ông Trần Huy Quán ( 1911 - 1984)

Gia đình và anh em trong họ Trần Huy nhà ông  đều khá giả. Ông được gia đình cho ăn học sớm về chữ Hán, chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Do ảnh hưởng bởi các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ông sớm giác ngộ cách mạng và tích cực tham gia hoạt động yêu nước sôi nổi. Ông tham gia  phong trào xuất dương nhưng bị bắt ở Thái Lan rồi trục xuất về nước và xử tù. Theo tài liệu hiện còn lưu trữ bằng tiếng Pháp tại Bảo tàng Xô Viết Nghệ - Tĩnh về hồ sơ  mà thực dân Pháp bắt giam và xử  ông Quán được dịch ra như sau ( Tôi đánh máy lại nguyên như bản photo từ bản gốc. Các số hiệu trên mặt hồ sơ: 1.236 / Gy: 576; 6629/CN.MT.C; F.1954).

“  I. SƠ YẾU LÝ LỊCH

Họ và tên            Trần huy Quán

Bí danh  Trần huy Vinh, Chat, Cô Sinh, Ma ly.

Năm sinh        1911

Nơi sinh  Long môn, Lâm thịnh, Nam đàn, Nghệ an.

Nguyên quán                 nt

Trú quán        

Cha   Trần huy Bân         Mẹ   Nguyễn Thị Hai

Vợ (hoặc chồng)

Tội danh   Hoạt động Cộng sản 1935

  1. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG
  • Bị bắt tại Thái Lan ngày 26 . 2. 35 tại LaKhon khi rải truyền đơn cộng sản. Bị đưa về Vinh ngày 26.11.35 bị kết án 6 tháng tù và 60 đồng tiền phạt vì xuất cảnh trái phép (theo b/án số 6 ngày 14.1.36 của tòa án tỉnh Nghệ an.
  • Được tha ngày 30 . 5 . 1936.”

   Đến năm 1948, ông tham gia quân đội đánh Pháp ở mặt trận Lào. Năm 1956, cải cách ruộng đất, ông có về thăm quê. Hồi đó, ông giữ chức vụ gì thì không rõ nhưng dân làng thấy ông đã mang súng lục bên hông. Một thời gian tiếp theo ông mất liên lạc với gia đình, anh em. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nghe tin ông còn sống ở Sài Gòn, người nhà vào Nam tìm được ông ở quận 11, thành phố Sài Gòn. Người nhà (Anh Phú gọi ông là bác ruột) thuật lại: Thời gian vào Nam Bộ ông làm nghề ngư dân đánh cá trên biển và lấy tên là Trần Đại Giang. Ông lập gia đình từ đấy.

  Sự nghiệp hoạt động yêu nước của ông là như thế !?. Cuối đời ông về sống với vợ và gia đình tại quận 11, Sài Gòn (nay là tp Hồ Chí Minh) rồi mất tại đấy năm 1984, hưởng thọ 74 tuổi. Gia đình anh em có làm hồ sơ để công nhận ông là Cán bộ tiền khởi nghĩa nhưng chưa được. Đề nghị các cấp thẩm quyền quan tâm !

  1. Ông Nguyễn Tư Hồng (1905 - 1984)

(Bút hiệu là Đông Tùng và có tên khác là Ký Hồng, Nguyễn Văn Bồng)

Ông sinh 15/5/1905 trong một gia đình nhà nho làm thuốc Đông y. Ông thông minh, hiếu động, tiếng Pháp, tiếng Hán giỏi. Ông từng làm thư ký Ca đát (hoạt động về lĩnh vực địa chính) ở Vinh, nên dân làng thường gọi ông là ông Ký Hồng. Gia đình, anh em thúc bá đều có kinh tế khá và có truyền thống hiếu học và học giỏi. Ba anh em ông đều làm nghề thuốc đông y chữa bệnh có uy tín nhất vùng. Không giống như người anh - thầy thuốc - ông Cửu Ới và người em là thầy thuốc - ông Đan San, ông Hồng sớm xuất dương sang Thái Lan, Trung Quốc hoạt động yêu nước theo các bậc tiền bối trong vùng. Theo như lời kể và tư liệu gia đình còn lưu giữ thì quá trình hoạt động của ông có những nét nổi bật sau:

3.1. Năm 21 tuổi (1926), ông được cán bộ của phong trào Đông Du giác ngộ, ông đã cùng nhiều thanh niên khác vượt Trường Sơn sang Lào, qua Thái Lan, vượt biển sang Hương Cảng, đến Quảng Châu nơi trụ sở Tổng hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Sau đó, ông theo học và đã tốt nghiệp các lớp chính trị, lớp sĩ quan quân báo trường võ bị Hoàng Phố (có giấy sao chứng nhận của Hội ái hữu Sài Gòn).

3.2. Trở lại Thái Lan hoạt động và đến tháng 1/1935 Chính phủ Thái bắt ông giao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương, rồi chúng đưa ông về giam tại nhà lao Vinh. Một thời gian sau chúng lại đưa ông đi đày ở Ban mê thuật…

3.3. Trước năm 1947, gia đình ông sống ở Vinh. Sau tiêu thổ kháng chiến năm đó, gia đình ông về quê làng Nha Môn sinh sống. Thời gian này ông được tổ chức của ta sử dụng ông trong ngành an ninh. Ông đã tích cực hoạt động và có đóng góp trong sự nghiệp bảo vệ an ninh của Nghệ An.

3.4. Sau 1954, ông được tổ chức cử vào Nam hoạt động và tham gia nhiều lĩnh vực, nhất là nghiên cứu văn hóa, lịch sử. Trong thời gian ông hoạt động ở miền Nam, gia đình ông được sự quan tâm của chính quyền, ngành an ninh, nên gia đình được cấp sổ gạo và các chế độ, các con của ông đều được đi học, học giỏi, tốt nghiệp đại học. Ông có 6 người con, 2 gái, 4 trai, trong dó có 3 trai đi bộ đội. Gia đình ông được Nhà nước ta thưởng “ Bảng vàng danh dự”.

3.5. Sau giải phóng miền Nam 1975, ông là hội viên Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh; Thư ký Hội đông y thành phố…Đầu năm 1977, ông ra Hà Nội và được giới thiệu về giúp việc nghiên cứu lịch sử tại Ban nghiên cứu lịch sử của Tỉnh ủy Nghệ An. Sau ba năm, do tuổi cao sức yếu ông xin về nghỉ tại quê nhà và mất ngày 18/ 02 / 1984, hưởng thọ 79 tuổi. Đến nay, ông vẫn chưa được hưởng một chế độ gì ?!. Đề nghị các cấp thẩm quyền quan tâm. !

  1. Cán bộ lão thành Cách mạng và tiền khởi nghĩa.

  Ở làng Nha Môn có nhiều Đảng viên lão thành và cán bộ tiền khởi nghĩa. Nay các ông đã về nơi vĩnh hằng nhưng tên tuổi các ông vẫn sống mãi với dân làng Nha Môn và Đảng bộ Hồng Long. Một số cán bộ đảng viên tiêu biểu là:

  1. Ông Nguyễn Khắc Phạn
  2. Ông Bùi Văn Điều
  3. Ông Trần Văn Cát
  4. Ông Nguyễn Văn Hiếu (còn gọi ông Hiếu Trì)
  5. Ông Nguyễn Khắc Danh
  6. Ông Nguyễn Khắc Oanh (em ruột cụ Danh)
  7. Ông Nguyễn Khắc Trinh
  8. Ông Vương Đình Vinh
  9. Ông Vương Đình Dinh (Gọi Vương Đình Vinh là chú ruột)

Trong các ông nói trên, trường hợp ông Vương Đình Dinh là một đặc biệt.

- Ông Vương Đình Dinh (1920 – 2000), sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo nhưng được bố mẹ cho ăn học khá chu đáo cả tiếng Hán, tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ, ông Dinh sớm giác ngộ cách mạng và tham gia hoạt động yêu nước. Ông Vương Đình Dinh vào ngành an ninh và được tổ chức của ta chấp nhận. Ông hoạt động bí mật trong lòng địch. Khi khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945, ông tham gia ở tỉnh Bình Định. Trong vụ án phản động ở Nghệ An 1950 kết thúc, nhiều tên phản động bị kết án tù, trong đó có ông Vương Đình Dinh với án 8 năm tù. Sau 1954, ông Dinh tiếp tục vào Nam hoạt động, do bị lộ, ông quay ra Bắc và hoạt động trong ngành công an phía Bắc vĩ tuyến 17, Vĩnh Linh, Quảng Trị. Năm 1968, ông phụ trách đồng bào Vinh Linh, Quảng Trị ra Bắc tại Tân Kỳ Nghệ An. Đến năm 1975, ông được Nghỉ hưu, nhưng vẫn chưa được công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa. Lúc ông còn sống đã làm rất nhiều hồ sơ đề nghị xét công nhận, có các cụ lão thành cách mạng cùng hoạt động và sinh hoạt Đảng hồi đó còn sống chứng kiến, như cụ Hoàng Nghĩa Duy, Nguyên là Viện trưởng Viện Kiểm sát Nghệ - Tĩnh và cụ Nguyễn Văn Đồng cán bộ lão thành cách mạng ở Nam Tân, Nam Đàn xác nhận, nhưng vẫn không được công nhận, vì thiếu cuốn lý lịch gốc cán bộ. Mãi đến năm 1998, ông 78 tuổi, công việc đề nghị vẫn tiếp tục. Rất may ở Thừa Thiên Huế, tổ chức của ta còn lưu giữ cuốn lý lịch gốc này. Cuối cùng ông được xác nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa (số 208 - XN/TU của Tỉnh ủy Nghệ An, ngày 27/8/1998). Ông Dinh rất phấn khởi khi được Đảng và Nhà nước cho đi nghỉ dưỡng tại Sầm Sơn, Thanh Hóa. Năm 2000 ông mất tại thị trấn Lạt Tân Kỳ, hưởng thọ 81 tuổi.

     Làng Nha Môn bây giờ đã khởi sắc, nhưng vẫn đậm nét xưa. Trai làng Nha Môn ngày xưa là thế và truyền thống ấy ngày nay lại được nhân lên gấp bội. Những người con làng Nha Môn ngày nay luôn tự hào và biết ơn sâu sắc các thế hệ cha ông trước đây và quyết tâm đem hết sức mình góp phần xây dựng quê hương Nha Môn, Hồng Long ngày càng giàu đẹp, văn minh./. 

                                                                                                              B.Đ.S

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Đất và người xứ Nghệ khác:
Hang động đầy thạch nhũ lấp lánh ánh vàng ở miền Tây Nghệ An (15/8/2018)
Trai làng Nha Môn (8/8/2018)
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
GS. Phan Huy Lê: chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam (26/6/2018)
Những bức ảnh đẹp về Bác Hồ (30/5/2018)
Để phát huy tiềm năng lợi thế Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An (21/5/2018)
Đền thờ Đức Hoàng Mười ở xứ Nghệ vấn đề văn hóa tâm linh (17/5/2018)
Đền Chín Gian với thực hành tâm linh của người Thái Nghệ An (11/4/2018)
Phan Kính - Người học trò xuất sắc và thành đạt của đất Lam Hồng (2/3/2018)
Mối quan hệ giữa Phan Bội Châu và Nguyễn Ái Quốc (31/1/2018)
Nhạc sĩ Vy Phong với dân ca Nghệ Tĩnh (giai đoạn 1975 - 2000) (19/12/2017)
Đại thi hào Nguyễn Du là hậu duệ Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí (19/12/2017)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 352 | Tất cả: 1,357,011
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn