KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Chiến tranh, nỗi đau và hi vọng
Tin đăng ngày: 7/8/2018 - Xem: 32
 

Minh Hải

 Trong nhiều năm qua, vấn đề hòa giải dân tộc sau chiến tranh được các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhiều người quan tâm. Nhiều trí thức cũng đã lên tiếng về vấn đề này và xem hòa giải là một yếu tố quan trọng để xây dựng khối đoàn kết dân tộc và phát triển đất nước.Thương binh là những người chịu nhiều đau đớn và thiệt thòi trong và sau chiến tranh. Nhưng không vì vậy mà họ để sự thù hận làm hạn chế góc nhìn của mình. Đã có nhiều người thương binh đang nỗ lực làm những việc góp phần vào hòa giải và hàn gắn vết thương sau chiến tranh. Đó cũng là cách họ làm để vơi đi những vết thương trên cơ thể và trong tâm hồn của họ.

Upload

                                                        Ảnh: Cảnh Hùng

Chiến tranh là nỗi đau, là sự bất hạnh của một dân tộc

Tôi còn nhớ, lúc sinh thời, GS.TS Phạm Đức Dương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, một nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng đã nói rằng: Dân tộc Việt Nam bất hạnh vì phải trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh. Chiến tranh trở thành một cái gì đó gắn liền với lịch sử hàng ngàn năm của đất nước. Chiến tranh diễn ra nhiều đến nỗi làm cho con người cảm thấy bình thường với cả điều kiện chiến tranh. Với nhiều dân tộc, chiến tranh là bất thường, còn Việt Nam, khi bước vào thời bình lại trở nên bất thường do trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh nên việc tiếp cận sự phát triển lại thành ra gặp khó khăn. Ý kiến của GS. Phạm Đức Dương có phần xác đáng khi mà gần như mỗi người dân của Việt Nam đều có ít nhiều tháng ngày phải sống trong chiến tranh. Trong lịch sử, chúng ta rất ít khi có được một quãng thời gian hòa bình đủ dài để kiến thiết, xây dựng và phát triển đất nước. Các hoạch định chiến lược và chính sách phát triển thường bị ngắt quãng, thay đổi vì các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước. Các cuộc chiến tranh không chỉ tàn phá cơ sở vật chất, hạ tầng, cướp đi nhiều của cải quý báu, mà nguy hiểm hơn, nó cướp đi hàng triệu người con của dân tộc đang trong độ tuổi trưởng thành và là nguồn lực chính để phát triển đất nước. Nhiều người may mắn sống sót trở về nhưng cũng mang trên mình những vết thương nghiêm trọng. Đặc biệt trong mấy cuộc chiến tranh vệ quốc trong thế kỷ XX đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình phát triển của đất nước. Và đến nay, chiến tranh đã lùi vào quá khứ hơn 40 năm nhưng những nỗi đau do chiến tranh để lại thì chưa khi nào nguôi cả.

Cảm nhận về chiến tranh của những người thương binh, có lẽ là cảm nhận thật nhất, con người nhất. Bởi họ tham gia vào cuộc chiến thật sự và phải gánh chịu những vết thương trên cơ thể. Họ đau trong cuộc chiến và cả khi cuộc chiến đã vào dĩ vãng hàng chục năm thì vết thương đó vẫn còn. Cụ Nguyễn Hữu Đức, 92 tuổi, thương binh ¼, là người đã kinh qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt kể lại: Năm 1946, vừa tròn 20 tuổi cụ tham gia vào quân đội, kinh qua cuộc kháng chiến chống Pháp, cụ 2 lần bị thương nặng trong đó có một lần suýt chết. Đến kháng chiến chống Mỹ cụ lại tiếp tục xông trận và chịu thêm 4 lần bị thương nữa. Nhưng nỗi đau lớn nhất của cụ là đã phải tự mình chôn cất cho nhiều đồng đội thân thiết. Có những lúc, đối diện với bom đạn, máu thịt, đói khát, sốt rét… khiến con người trở nên sợ hãi, thèm sống và có khi cảm giác muốn chạy trốn. Nhưng muốn chạy trốn cũng không có đường để trốn, chỉ có con đường là tìm lấy sự sống trong cái chết. Sau nửa thế kỷ nghĩ lại, cụ vẫn thấy được sự khốc liệt của chiến tranh: “Chẳng có cuộc chiến nào đẹp hay lãng mạn cả. Kinh khủng và tàn khốc, đó là chiến tranh. Chiến tranh khiến con người nhiều khi cũng giống con thú, hoặc lao lên chém giết, hoặc sợ hãi trốn tránh. Thế hệ chúng tôi, chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng, và vì bảo vệ tổ quốc, nó thôi thúc mọi người vào chiến trận. Nhưng ai cũng là con người, đối diện với cái chết, nhặt từng mảnh xương thịt của đồng đội để mai táng, hoặc nhìn mà không kịp nhặt thì ai mà không bi thương, mà không sợ hãi”.

Không kinh qua hai cuộc chiến tranh như cụ Đức, nhưng thương binh Đặng Sỹ Ngọc cũng có những năm tháng chiến đấu trong chiến trường chống Mỹ từ Quảng Trị đến nhiều chiến trường ác liệt khác. Ông cũng bị thương 7 lần và có lần suýt chết ở Quảng Trị, may mà được chuyển ra Bắc chữa trị kịp thời. Nói về sự ác liệt của chiến tranh, ông Ngọc kể lại rằng: Năm 1966, trong không khí cả nước hăng hái tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông nhập ngũ. Lúc đó, đi bộ đội là cảm thấy vinh dự, ai cũng hăng hái tham gia, có những người không đủ tiêu chuẩn cũng cố gắng tìm cách để đi cho bằng được. Nhưng vào chiến trường thật sự mới thấy nó quyết liệt, chết chóc, ghê rợn và đầy gian khổ. Chỉ một âm thanh vù qua, mọi thứ tan tác, không trở mình lại được mới cảm thấy đau và biết mình bị thương, khi mọi người chạy đến thì hai người đồng đội bên cạnh đã hy sinh, còn bản thân mình cũng bị thương nặng. Trận chiến nào cũng có những đồng đội hy sinh khiến nhiều người không khỏi chùn bước. Tháng 7/1972, ông bị thương nặng được chuyển ra Bắc điều trị. Trên đường di chuyển, bị địch phát hiện và thả bom, hai cô dân quân Quảng Trị kịp cáng ông xuống hầm rồi trở lên để lo cho người khác và không thấy họ quay lại. Ông nằm dưới hầm ngày rồi đến đêm, nghe côn trùng kêu, đói, khát, đau và nghe mùi thối rữa của vết thương. Ông thầm trách hai cô dân quân sao bỏ quên mình trong hầm. Để rồi hôm sau khi có người tìm được và đưa ông lên thì mới biết hai cô gái đã hy sinh ngay sau khi đưa ông xuống hầm. Từ chiến trường Quảng Trị khốc liệt, nếu ai đó may mắn khi bom đạn tránh mình thì hành quân tiếp vào Nam cũng đầy rẫy nguy nan. Nhưng những người bị thương di chuyển ra Bắc điều trị cũng khó thoát khỏi bom đạn, chẳng có chỗ nào gọi là an toàn cả. Như ông cảm nhận: “Chiến tranh khiến con người ta không tự làm chủ mình. Trên chiến trường phải giành giật sự sống. Phải nhìn thấy sự ác liệt của chiến tranh, thấy đồng đội, nhân dân mình hy sinh nên sự căm thù kẻ địch trở thành sức mạnh để chiến đấu. Và khi đó, trong người luôn nghĩ kẻ thù cụ thể bên kia chiến tuyến, họ chiến đấu vì xâm lược, vì làm tay sai cho giặc Mỹ nên phải tiêu diệt chúng…”.

Khác với hai người thương binh trên, bác Nguyễn Trọng Thành, cũng là thương binh hạng ¼ lại rơi vào tình trạng khác. Năm 1972, tròn 20 tuổi ông nhập ngũ. Vào chiến trường Quảng Trị chiến đấu được một thời gian thì bị bắt trong một trận đánh mà đội của ông bị phục kích khiến ông bị trúng một mảnh pháo xuyên từ mắt trái lên trán. Ông được đưa về trại giam Mang Cá rồi vào bệnh viện Duy Tân ở Đà Nẵng để chữa trị. Sau đó bị đưa ra trung tâm phỏng vấn Đà Nẵng để hỏi cung; và bị chuyển ra nhà tù Phú Quốc. Đến tháng 3/1973 thì được trao trả sau Hiệp định Paris. Như ông kể lại, những ngày bị tra tấn khi hỏi cung thì bị đánh đập tàn nhẫn. Khi ra trại giam Phú Quốc, những ngày lễ, đề phòng tù nhân làm loạn, cai ngục cho thuốc xổ vào thức ăn hoặc nước uống để tù nhân bị đi ngoài, không làm loạn được. Những lúc có người vượt ngục thì bị tra tấn dã man. Họ cho ngậm một thanh sắt rồi lấy búa đập vào thanh sắt để lấy răng tù nhân. Và có rất nhiều hình thức tra tấn ghê rợn khác mà nhiều người phải chịu đựng. Có những người được nhận huy chương vì “thành tích” tra tấn tù nhân mà những người đã ở tù đây rất căm ghét. Chiến tranh là như vậy, có lúc con người ta đối xử với nhau không giống con người.

Còn vô vàn những người từng tham gia chiến tranh và bị mất đi một phần cơ thể của mình nơi chiến trường. Ký ức chung của họ là chiến tranh vô cùng tàn độc, khốc liệt và kinh khủng. Chiến tranh không chỉ để lại những vết thương cho tất cả những người bị cuốn vào cuộc chiến đó, nó còn là vết thương ăn sâu vào một đất nước, một dân tộc, kéo lùi sự phát triển đến cả trăm năm. Vậy nên, khi cuộc chiến kết thúc, làm sao để giảm nhẹ những vết thương cho những người phải chịu thiệt thòi cả cơ thể lẫn tinh thần từ chiến tranh, và cả giảm nhẹ vết thương của một dân tộc, đó là trách nhiệm của mọi con người.

Khép lại quá khứ, mở rộng tương lai, hòa giải để phát triển

Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Nhưng trớ trêu thay chúng ta lại phải chịu quá nhiều cuộc chiến tranh. Và ngoài các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các thế lực trong nước thì phần lớn là do sức ép từ ngoài vào, do chủ nghĩa bá quyền của các nước đế quốc. Vậy nên, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Rồi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Việt Nam không may khi bị chia thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Vậy nên, sau khi cuộc chiến kết thúc, chúng ta phải tiến hành công cuộc hòa giải dân tộc để phát triển đất nước. Trong nhiều năm qua, nhiều người nói về giá trị của việc chiến thắng trong các cuộc chiến tranh vệ quốc thường tập trung về giá trị chính trị của nó. Nhưng đất nước này, dân tộc này phải gồng mình đứng lên đánh giặc ngoại xâm không chỉ vì chế độ chính trị. Chúng ta phải đánh thắng giặc Mỹ thì mới thống nhất đất nước được. Và thống nhất đất nước là để đoàn kết toàn dân. Đoàn kết là để phát triển, xây dựng đất nước giàu mạnh, làm cho con người sống đầy đủ hơn, hạnh phúc hơn. Đó chính là giá trị quan trọng nhất, cao nhất của kháng chiến mà chúng ta đã phải đổ ra rất nhiều mồ hôi, nước mắt và máu. Muốn phát triển được trong bối cảnh hội nhập thì hòa giải các vết thương chiến tranh, hòa giải dân tộc là một việc làm cần thiết và có giá trị lớn. Quan điểm về hòa giải, hòa hợp dân tộc cũng được nhiều lãnh đạo cao cấp nhà nước quan tâm. Năm 2005, cựu Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã phát biểu trên báo chí rằng: “Chiến tranh đã qua cách đây ba chục năm. Chúng tôi đã chuyển giao quyền lãnh đạo cho thế hệ kế tiếp. Nói như thế có nghĩa là tôi mong chiến tranh thật sự phải thuộc về quá khứ. Một quá khứ mà chúng ta mong muốn khép lại... Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu... Đối với Việt Nam, nhất là ở miền Nam, tôi thường biết và hiểu nhiều gia đình đều có hai bên hết. Chính trong thân tộc của tôi, các anh em tôi, các cháu ruột của tôi cũng có số bên này và số bên kia. Cái đó có hoàn cảnh của nó. Có những gia đình một người mẹ có con đi chiến đấu, chết ở bên này và đứa con khác thì đi chiến đấu chết ở phía bên kia... Chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, muốn để mọi người Việt cùng chung tay hàn gắn, chung tay tạo dựng thì chúng ta phải thực tâm khoan dung và hòa hợp”. Mười năm sau, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng nhấn mạnh tiếp rằng: “Tôi hiểu có những mức độ chấp nhận khác nhau về chuyện hòa giải. Có những nghịch lý tồn tại nhưng bước qua lằn ranh đâu đơn giản. Có những người chứng kiến sự hy sinh của dân tộc quá lớn, họ cứng như thép, không dễ xoay chuyển được. Có người cho rằng, thôi đã 30-40 năm qua rồi, hãy hòa hợp, hòa giải nhanh đi... Nếu nhìn vào những mất mát, hy sinh to lớn, xét về nguyên tắc là không thể nhân nhượng, bỏ qua được. Nhưng xét về tình dân tộc, nghĩa đồng bào, đã 40 năm rồi, thì trong quan hệ có thể cởi mở, mềm dẻo, đối xử nhẹ nhàng”… Điều đó cho thấy sự quan trọng của việc hòa hợp, hòa giải dân tộc đối với sự phát triển của đất nước. Và thực tế, việc hòa giải trong nhiều năm qua đã đạt được nhiều kết quả to lớn, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Trong đó, có sự đóng góp của nhiều thương binh, bệnh binh, vốn là những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất, chịu nhiều đau đớn do chiến tranh gây ra.

Nói về hòa giải vết thương chiến tranh, ông Nguyễn Trọng Thành cho rằng đó là việc cần thiết để phát triển đất nước trong điều kiện hiện tại. Chiến tranh đã qua, một thế hệ đã hy sinh một phần cơ thể hay cả tính mạng mình trong chiến tranh là vì mục đích bảo vệ đất nước, chống lại kẻ thù xâm lược. Và nói cho cùng, bao người chiến đấu và hy sinh là để đất nước độc lập, con người được tự do và ấm no, hạnh phúc hơn. Vậy nên, bây giờ, nhiệm vụ quan trọng của mọi người là phải xây dựng đất nước giàu đẹp hơn, lớn mạnh hơn. Muốn làm được điều đó thì phải xóa bỏ sự thù hận, căm ghét nhau, bắt tay hợp tác với nhau để xây dựng đất nước. Trong chiến tranh, ai cũng vì lý tưởng và nhiệm vụ của mình. Có người tự nguyện nhưng cũng có người bị ép buộc phải ra chiến trường. Còn sau khi buông bỏ súng đạn, ai cũng muốn có cuộc sống bình thường với gia đình và vợ con. Những vết thương sẽ không bao giờ lành nếu hàng ngày chúng ta cứ nghĩ đến nó. Ở góc độ khác, như ông Thành cho biết, trong chiến tranh, ở bên kia chiến tuyến cũng có nhiều người giữ được lương tri, không phải ai cũng tàn độc với đồng loại của mình. Họ là những người làm y tế vẫn cứu chữa cho tù nhân như những bệnh nhân khác, hay nhiều người làm những việc khác vẫn đối xử tử tế với tù nhân. Nhưng những người này bao nhiêu năm qua chúng ta không để ý đến tiếng nói của họ. Có nhiều gia đình ở miền Nam rơi vào hoàn cảnh “một gia đình hai chiến tuyến” đầy bi thương nhưng lại vô cùng khó xử. Và các chính sách xã hội đối với những người này cũng rất khó để thực hiện sao cho hợp lý vì đây là một vết thương nhạy cảm.

Đồng cảm với ông Thành, ông Ngọc cũng cho rằng mọi vết thương sẽ đau hơn khi bị khơi dậy. Chúng ta đã bị một vết thương lớn là trải qua quá nhiều cuộc chiến tranh trong thế kỷ XX. Vậy nên giờ phải phát triển đất nước để bù lại, làm lành lại những vết thương đó. Như ông từng nhớ, một lần cùng đồng đội đi thăm lại chiến trường, ông cũng gặp một nhóm người từng là lính miền Nam cộng hòa trước đây cũng có mục đích tương tự. Sau vài phút đầu ngần ngại, các ông cũng vui vẻ trò chuyện với nhau. Có lúc ông còn đùa: “ngày trước ông có ném lựu đạn vào chúng tôi không”. Thấy người kia ngần ngại, ông cười và nói rằng: “Lúc đó chúng ta là kẻ thù, tôi sẵn sàng bắn vào ông trên chiến trường, còn bây giờ, chúng ta là người Việt Nam, là bạn bè”. Bỏ quên trên mình đang mang 7 vết thương, nhiều năm nay ông Ngọc vẫn chạy xe ôm kiếm sống, hàng ngày vẫn bỏ ống một ít tiền để khi có điều kiện thì đi thăm đồng đội hay giúp đỡ những người không may mắn được như mình. Với niềm vui viết báo, ông còn đi sưu tầm tài liệu để viết về đồng đội, viết về những câu chuyện của thời chiến tranh. Gần đây, ông lại quan tâm đến viết những câu chuyện về những người bên kia chiến tuyến nhưng có những hành động tử tế với các tù nhân, các đồng đội của ông. Như ông chia sẻ: “Chúng ta nói nhiều về sự tàn ác của kẻ thù trong chiến tranh, điều đó không sai nhưng nói quá nhiều và nhiều khi còn nói quá lên vô hình chung gây nên tâm lý thù hận lẫn nhau dai dẳng. Trong khi đó, thời chiến tranh cũng có những người họ có lương tri, đối xử tử tế với tù nhân bị bắt, hay giúp đỡ nhiều chiến sĩ trốn thoát… Những người này ít được nói đến. Và quan trọng hơn, cái cần nói đến là lương tri của mỗi con người. Chiến tranh làm cho nhiều người mất lương tri, nhưng không phải tất cả. Và cả khi không có chiến tranh thì cũng có những người đánh mất lương tri của mình. Nên tôi nghĩ, hòa giải phải bắt đầu từ lương tri của mọi người. Chúng ta phải khép lại quá khứ để mở rộng tương lai”.

Không chỉ những người nói trên, mà có lẽ còn nhiều người thương binh khác cũng có sự đồng cảm như vậy. Chiến tranh đã qua, vết thương sẽ không bao giờ lành, nhưng nếu khêu gợi lại vết thương thì nó càng đau đớn hơn. Hòa giải, đó là cách để con người ta làm giảm nhẹ nỗi đau do vết thương chiến tranh để lại, và cũng là để hàn gắn vết thương sâu thẳm của dân tộc bao nhiêu năm qua. Thù hận không làm cho ai hạnh phúc cả. Thù hận cũng không thể trở thành động lực để phát triển. Như cụ Đức nói: Chúng ta căm ghét cái xấu, căm ghét kẻ thù, nhưng không phải căm ghét một con người, một bộ phận cụ thể mãi mãi. Khi nào cũng phải biết căm ghét cái xấu để vươn đến cái tốt đẹp hơn. Hiện nay, tệ nạn xã hội, ma túy hay tham nhũng cũng là cái xấu cần phải căm ghét. Và căm ghét cái xấu không đồng nhất với việc khơi dậy thù hận trong quá khứ. Quá khứ không thể quên nhưng cũng không thể mang gánh nặng quá khứ vào sự phát triển của hiện tại và tương lai.

Hòa giải cần thiết cho sự phát triển của đất nước. Đó cũng là mong muốn của nhiều người, trong đó có những người thương binh đã nói ở trên. Vết thương của họ sẽ theo họ đến hết cuộc đời, nhưng mà họ vẫn dùng lương tri của mình, bỏ quên nỗi đau cơ thể của mình để mong muốn hòa giải những nỗi đau của nhiều người, của dân tộc. Vậy nên, chỉ có những người nào đó bị thương tật về tâm hồn mới không muốn hòa giải, mới không muốn những vết thương của đất nước được nguôi ngoai, được hàn gắn và con người cũng được hạnh phúc hơn.

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
KHXHNV & Đời sống khác:
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Đại thắng từ lòng dân (19/8/2018)
Tác động của tivi và những thay đổi trong quan hệ gia đình, cộng đồng của người Thái (Qua tư liệu Dự án ti vi tại huyện Quỳ Châu và Quế Phong, tỉnh Nghệ An (13/8/2018)
Chiến tranh, nỗi đau và hi vọng (7/8/2018)
Hình ảnh "mộc tồn" trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao (31/7/2018)
Vị thế Phật giáo trong đời sống văn hóa của cư dân xứ Nghệ (31/7/2018)
Năm 2020, con người sẽ "sống hai cuộc đời" (10/7/2018)
Xung đột gia đình trong các vợ chồng trẻ và vai trò của nam giới trong vấn đề bạo lực gia đình (9/7/2018)
Con số bốn trong ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (Qua dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt) (9/7/2018)
Thi ca viết về thầy cô - những người đưa đò thầm lặng (2/7/2018)
Làn điệu Xuối (2/7/2018)
Thương mại hóa trí thức dân gian các dân tộc thiểu số (29/6/2018)
Gia đình là cái nôi của văn hóa đọc (26/6/2018)
Cộng đồng các dân tộc thiểu số Nghệ An phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới (18/6/2018)
Mẹ chồng - Con dâu trong cấu trúc gia đình Việt (18/6/2018)
Cách mạng khoa học - công nghệ và tác động của nó đến con người và xã hội Việt Nam (30/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 351 | Tất cả: 1,357,010
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn