KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Làn điệu Xuối
Tin đăng ngày: 2/7/2018 - Xem: 57
 

                                             Quán Vi Miên

         

  1. Làn điệu Xuối

          Xuối là một làn điệu dân ca Thái - Nghệ An, rất phổ biến trong cộng đồng dân tộc này, trong mọi lứa tuổi, từ trẻ nhỏ cho đến người lớn, từ phụ nữ đến đàn ông, từ người trẻ đến người già. Xuối được sử dụng khi có cuộc vui, uống rượu cần, thi hát đối đáp giưa hai phe nam và nữ, có nhiều người đến nghe. Nam nữ thanh niên đến tuổi yêu đương thường dùng điệu hát này để trao đổi tâm tư tình cảm với nhau những khi đi trên đường, gặp nhau bên suối, làm việc trên nương rẫy, ngoài ruộng, hay vào rừng lấy củi… Xuối là loại dân ca "giàu chất trữ tình, giai điệu êm, thiết tha, có một vẻ đẹp hồn nhiên, nguyên sơ, dễ làm say lòng người. Cử lệ một nhạc điệu Xuối thong thả, thiết tha, với 3 thang âm: mì, son, la. Giữa "mi thứ" và "la thứ" có khuynh hướng rõ hơn. Trên cơ sở âm điệu ấy, tùy vào người hát, dựa vào lời mà tiến hành giai điệu, có khi hát kéo dài suốt đêm. Thang âm của Xuối là: sol, la, đố, rế, nhưng chỉ sử dụng chủ yếu 3 âm : sol, la, đố, còn âm "rế" để diễn đạt tiếng "ơ" mở đầu bài hát (1).

  1. Nhạc cụ trong hát Xuối

          Xuối có thể hát kèm với nhạc cụ hoặc không kèm với nhạc cụ; đó là những khi đi rẫy, lấy củi, làm nương, làm ruộng, xuôi bè, bắt cá…không có nhạc cụ trong tay hoặc không thuận lợi cho việc dùng nhạc cụ. Còn trong trường hợp có thể dùng nhạc cụ thì người ta sử dụng các loại nhạc cụ sau:

  1. Sáo Pỉ Xuối

          Pỉ Xuối là cây sáo nứa, được gọt bằng dao, bằng một ống nứa nhỏ như que đũa, phía đầu có mắt làm một lưỡi gà, phần thân khoét 6 lỗ bấm; khoảng cách các lỗ bấm tùy thuộc vào độ dày mỏng, to nhỏ của ống nứa mà khoét. Người có kinh nghiệm thì làm lưỡi gà trước, sau đó áng chừng, khoét một lỗ bấm đầu tiên, sau đó thổi thử rồi mới khoét tiếp các lỗ bấm. Sáo Xuối thường chỉ dài độ gang rưỡi, nhỏ gọn, có thể đút túi áo, túi quần để mang đi; lúc ở nhà thì dắt trên mái tranh, bức phên, để đầu giường…Tiếng của sáo Pỉ Xuối khi thì thủ thỉ, nhỏ nhẹ, khi thì cao vút, véo von, rất ăn khớp với làn điệu Xuối.

  1. Kèn Pỉ Nảnh

          Kèn Pỉ Nảnh là loại kèn lá, thường là lá sa nhân nên có tên như vậy ("nảnh" có nghĩa là "sa nhân"), nhưng kèn Pỉ Nảnh cũng có thể được cuộn bằng bất kỳ thứ lá rừng nào nếu thích hợp. Người ta chỉ cần ngắt thứ lá không già quá, không nhám quá, không dòn quá, có độ trơn bóng mềm mại một chút là có thể đưa lên mồm thổi, biến nó thành cái kèn, thành những lời tâm tình. Những người thạo thổi loại kèn này, thậm chí chỉ cần ngậm lá vào là thổi, không cần dùng tay cầm; tùy cặp môi tự điều khiển chiếc lá.

          Ngoài hai loại nhạc cụ đặc trưng dùng cho hát Xuối trên đây, người ta cũng có thể dùng sáo dui lỗ thổi ngang; hoặc loại sáo dui vát một đầu theo kiểu sáo "tiêu" để phục vụ cho hát Xuối. Nhưng đó là trường hợp "chính quy" ở nhà, hát có "bài bản", có sự chuẩn bị chu đáo, có tính chất "biểu diễn"; trong khi loại hát Xuối thích hợp hơn cả vẫn là diễn ra tự nhiên, trong cuộc sống, ở ngoài môi trường thiên nhiên, lao động, sinh hoạt…

  1. Cách thức hát Xuối

          Như trên đã nói, với các thang âm: sol, la, đố, rế, nhưng chỉ sử dụng chủ yếu 3 thang âm: sol, la, đố; còn âm "rế" chỉ để diễn đạt tiếng "ơ" mở đầu bài hát; và trên cơ sở âm điệu ấy, tùy theo người hát, dựa vào lời mà tiến hành giai điệu, có khi dài suốt đêm. "Có khi là cuộc hát đối đáp giữa các nghệ nhân quanh vò rượu cần  để thi tài ứng tác, trên cơ sở làn điệu cũ, lồng lời mới vào, xoay quanh chủ đề do họ đề ra trong cuộc vui, có cuộc diễn ra 7 ngày 7 đêm, như ở Quế Phong" (2).

Sau đây là một đoạn Xuối:

"Ờ…chò vả hục hâu mằn, pảy khiếu nho lái, ài mưng ơi!

Hấu quai hừn piêng hú bò chẩu lơ là!

Ài mưng hảy vả moi đu!

Tỏi tỉnh xón nang năm nơ, hiêm ơi!..."

(Ờ…cho dù khung cửi chắc, nhưng đâu biết có bền, anh ơi!

Sừng nghé mới cao ngang tai, chưa phải là muộn

Anh hãy nói/hát nghe xem!

Tâm tình với nàng nhé, người yêu ơi!...)

  1. Các loại Xuối

          Có người chia Xuối thành các loại: Xuối lấy củi (Xuối âu phưn), Xuối uống rượu (Xuối ky lầu), Xuối ứng tác (Xuối chà lảy), Xuối dặn gái (Xuối xẳng xáo), Xuối đi rẫy (Xuối páy hảy), Xuối ghẹo gái (Xuối dọc xáo), Xuối xuôi bè (Xuối lỏng pe)… Cũng có người cho rằng Xuối chỉ có 1 loại. Sở dĩ có sự không nhất trí như vậy là do căn cứ phân loại khác nhau; có người căn cứ vào hoàn cảnh, môi trường hát Xuối; có người lại căn cứ vào nội dung, chủ đề bao trùm trong các cuộc hát Xuối.

Trong cuốn sách này chúng tôi phân loại Xuối theo nội dung chủ đề như sau

  1. Xuối về tình yêu, gia đình, xã hội

          Đây là bộ phận Xuối phong phú nhất, hay nhất, thể hiện tình yêu lứa đôi trong nhiều hoàn cảnh, cung bậc khác nhau; về hoàn cảnh gia đình giàu nghèo trong xã hội rất cảm động, nghe ứa nước mắt; về những biến động trong xã hội miền núi Nghệ An như "loạn giặc Xá" năm 1874, Giáp Tuất, dẹp yên năm 1883, Quý Mùi; về Đốc binh Lang Văn Thiết đứng lên chống Pháp năm 1885 theo chiếu Cần Vương. Cũng có những bài Xuối khuyên người ta trồng cây, không sinh nhiều con, không hút thuốc phiện, đi học chữ, ngợi ca cuộc sống mới, v.v.

  1. Xuối về núi rừng, bản mường, lao động sản xuất

          Miền Tây Nghệ An núi rừng hùng vĩ, giàu đẹp. Xuối đã dành những câu, những bài, thậm chí cả một trường ca (Trông mường/Lai mổng mương) để ca ngợi cảnh núi rừng, sông suối, bản mường quê hương "Đi lên phía ấy là núi Pu Xúng/ Đến nơi nghe chim chóc ca hót/ Ta lên núi Chổng Cha, núi đá Cón Căm/ Về phía ấy nhiều nguồn suối chảy/ Lên tận núi Cảy Tỏ, Căng Hiếng/ Núi Căng Hiếng và Căng Mái nối nhau…". Vùng đất này lắm nắng nhiều mưa, có những đêm sương rơi "Nửa đêm sao trốn/ Sương mù rơi ướt cả đầu sàn"; có lúc "Đen kịt chân trời/ Sáng ngời tầng không/ Em gái đi đường nhớ mang lá cọ", phòng trời sắp mưa. Giữa núi rừng sông suối ấy, bản mường mọc lên "Bản mường dựng cạnh rừng săng lẻ, rừng Pỏ quê ta/ Trong vắt nước vũng sâu lững lờ trôi/ Trông vời khắp bản khắp mường/ Xa xa là nhà sàn người Thái ta đó". Núi rừng, bản mường tươi đẹp, con người chăm lo lao động, điểm tô cuộc sống "Ra năm trời đổ sấm/ Dân bản lên phát rẫy núi cao/ Phát đốt, gieo ngô, trồng sắn"…

  1. Xuối hát - kể sử thi, trường ca, truyện thơ

          Trong các cuộc uống rượu cần, đón khách quý, đám cưới, lễ hội…người ta cũng thường dùng Xuối để hát - kể các sử thi như "Xuống mường" (Lai lông mương), Khủn Chưởng (Lai khún chướng); hát - kể trường ca như "Trông mường " (Lai mổng mương); hát - kể về các truyện thơ như "Xử Thôn" (Lai xứ thôn), Khủn Tưởng - Khủn Tinh - nàng Ni (Lai khún tướng - khún tinh - nang ni), Chim yểng (Lai nộc yềng), Hủn Lu - Ùa Piểm (Lai hún lu - ùa piểm), Chim phượng hoàng (Lai nộc cốc căm), Nàng Căm - chàng Ín (Lai nang căm - tạo ỉn), Tiễn dặn người yêu (Lai xẳng chụ xón xáo), v.v. Sức hấp dẫn của loại Xuối này thì khỏi phải nói; người ta đến nghe chật nhà, lặng phắc, có khi nghe đến sáng lúc nào không biết.

  1. Xuối về cảm ơn, chúc tụng

          Loại Xuối này linh hoạt, dân dã mà trang trọng, không cầu kỳ mà vẫn rất bài bản, cái chính là đối tượng nhận được tình cảm chân thành. Thường là những lời chúc tụng như "Bình an nhé, già lão nên bố/ Bình an, sống thọ, nên ông ngoại bà ngoại/ Mọi lứa cháu đều được bồng/ Mọi đứa chắt đều được mắng/ Sống thọ, bùng nhùng rối xù tóc bạc/ Răng rụng, răng lung lay"…, sau khi được chủ nhà đón tiếp, mời cơm, mời rượu; cảm ơn trước và chúc tụng sau. Tùy vào hoàn cảnh, lứa tuổi, nghề nghiệp mà chúc; lời chúc chân thành khiến người nghe cảm động vô cùng.          

  1. Vài nét về nghệ thuật lời Xuối
  2. Ngôn ngữ trau chuốt, mượt mà, tinh tế

          Ngôn ngữ Xuối được bao nhiêu thế hệ người dân Thái trau chuốt, mượt mà, tinh tế; đó là ngôn ngữ của "Tiễn dặn người yêu", "Khủn Chưởng"…, có khi gọt dũa như "Anh muốn được em về dệt tơ/ Chàng muốn được nàng về dệt vải/ Muốn được "bông hoa" (người đẹp) về xây dựng cửa nhà"; nhưng cũng vẫn giữ

được sự mộc mạc, chân thành dân dã " Anh nhớ em, ăn trầu không đỏ/ Nhớ nàng, ăn cơm không được/ Nhớ tới "bông hoa" (người đẹp), buồn bã trong lòng"…

  1. Chứa đựng thông điệp - thẩm mỹ

* Sử dụng các biện pháp tu từ, nâng cao hiệu quả nghệ thuật

+ So sánh:

Ví dụ:

Anh thấy em như rái thấy cá

Chàng thấy nàng như quạ thấy trứng

Anh thấy em như gà thấy bắp ngô

Chàng thấy nàng như gấu thấy mật ong

Gấu ăn mật ong còn có khi chán

Anh yêu em chẳng chán bao giờ

+ Ẩn dụ

Ví dụ:

Anh muốn đặt chân lên chiếu, sợ chiếu hỏng

Đặt chân lên cót, sợ cót hư

Đặt chân lên giường, sợ giường sập

+ Nhân hóa

Ví dụ:

Anh hỏi chim nhưng chim không nói

Hỏi gió và mưa

Mưa và gió vỗ cánh bay đi

+ Phúng dụ

Ví dụ:

Miếng cơm bằng bọ chét, nuốt không được

Vắt xôi bằng cái chén, khó nhai

Mới gặp nhau, cây nứa 10 sải, 20 sải tưởng có thể nuốt

Cây nứa 9 lóng mường chợ, tưởng có thể nuốt ngang (!)

+ Hoán dụ

Ví dụ:

Anh thấy cá nấp dưới gốc cây, muốn mò quá đi thôi

Anh thấy ngực em ai đầy đặn, muốn đến gần

Thấy cánh tay tròn ngà voi, anh muốn gối đầu ngủ

+ Tượng trưng

Ví dụ:

Chẳng lẽ thoáng thấy nón, nón lại quay vào nhà

Trông thấy trăng, trăng lại nấp vào mây

Anh thoáng thấy em, em lại quay đi

  1. Nghệ thuật vần điệu

          + Hiệp vần

          Xuối sử dụng thể thơ Thái linh hoạt. Với thể thơ 5 chữ (tiếng) thì chữ thứ 5 câu trên, vần với chữ thứ 2 câu dưới; với thể thơ 7 chữ, thì chữ thứ 7 câu trên vần với chữ thứ 5 câu dưới. Trong các trường hợp phá cách, câu thơ dài ra, hoặc ngắn lại, thì hiệp vần linh hoạt, chủ yếu gieo vần lưng.

          + Dòng thơ

          Như trên đã viết, thơ ca Thái khá linh hoạt, tự do; thể 5 chữ (tiếng) thì mỗi dòng 5 chữ; thể 7 chữ thì mỗi dòng 7 chữ; nhưng cũng có khi dòng thơ có thể dãn ra hàng chục chữ; và cũng có khi co lại vài chữ. 

          + Phối thanh

          Có khi trong một dòng thơ cũng dùng những từ đồng âm để tạo nên hiệu quả biểu đạt. Câu "Ha nhai ha tẻ chơ a mạc tánh lai ê nọng", các từ "ha, ha, a" diễn tả tình yêu thương, quấn quýt của đôi trai gái. (Câu này dịch là "Mình với ta yêu nhau/ chơi với nhau từ khi còn lấy quả dưa sọc tập bồng làm em", để nói hai người yêu nhau đã lâu, đã gắn bó, đã có nhiều kỷ niệm).

          + Tách từ ghép đẳng lập để tăng nghĩa hoặc giảm nghĩa

Ví dụ:

Đấc ma léo, điểng

Tiểng cưn đáo hòn/xòn

(Khuya đến rồi, khoắt

Nửa đêm yên tĩnh sao dồn/tụ)

          Từ "đấc điểng" (khuya khoắt) tách ra, làm tăng cảm giác thời gian chuyển dịch về khuya, ngày càng sâu, càng vắng lặng, càng xoáy vào tâm trạng buồn nhớ của người đang yêu.

+ Đảo ngữ làm tăng sức biểu hiện

Ví dụ:

Ài thám nộc khồn nộc bò hán

Thám lôm tơng phốn

Phốn tơng lôm chắp pịch bín vạy

(Anh hỏi chim nhưng chim không nói

Hỏi gió và mưa

Mưa và gió chắp cánh bay đi)

+ Nói lái tạo nên sự bất ngờ, hài hước, thú vị

Ví dụ:

Ái lầu tòng xở ngua nhăng lộm pặp phái

Tòng xở hiềm chụ nọi lộm pặp lóng chăn/lắn chong

(Mùi rượu đụng phải bò làm nó ngã cạnh phai

Đụng phải người tình nhỏ, ngã bên giường/lộn cổ xuống giường)

Từ "lóng chăn" và "lắn chong" lái nhau.

 

Chú thích

1/ Lê Hàm (chủ biên), Âm nhạc dân gian xứ Nghệ, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An xuất bản, Vinh, 2000, tr. 268- 269, 302- 303

2/ Lê Hàm (Sđd), tr. 303

Tài liệu tham khảo

1/ Lê Hàm (chủ biên), Âm nhạc dân gian xứ Nghệ, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An xb. Vinh, 2000.

2/ Tô Ngọc Thanh (sưu tầm, biên soạn), Dân ca Thái, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1980.

3/ Hoàng Tam Khọi (sưu tầm, dịch), Tản chụ xống xương (Tâm tình tiễn thương),

Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1984.

4/ Mạc Phi (sưu tầm, dịch), Dân ca Thái, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1979.

5/ Nguyễn Hữu Thức (chủ biên), Dân ca Thái (Mai Châu), Sở Văn hóa Thông tin Hà Sơn Bình xuất bản 1991.

 

 

 

 

KHXHNV & Đời sống khác:
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể trong việc giảng dạy triết học Mác -Lênin tại Trường đại học Kinh tế Nghệ An hiện nay (11/9/2018)
Quan điểm của Xuân Diệu trước 1945 về tính dân tộc và yêu cầu hội nhập nhân loại của văn học Việt Nam (10/9/2018)
Những người phụ nữ đi đầu trong “Tuần lễ vàng” (6/9/2018)
Chủ tịch Hồ Chí Minh với đội ngũ trí thức trong - Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp (31/8/2018)
Lịch sử một dân tộc “dễ bị tổn thương” (31/8/2018)
Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về Khoa học và công nghệ trong giai đoạn phát triển mới (28/8/2018)
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Đại thắng từ lòng dân (19/8/2018)
Tác động của tivi và những thay đổi trong quan hệ gia đình, cộng đồng của người Thái (Qua tư liệu Dự án ti vi tại huyện Quỳ Châu và Quế Phong, tỉnh Nghệ An (13/8/2018)
Chiến tranh, nỗi đau và hi vọng (7/8/2018)
Hình ảnh "mộc tồn" trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao (31/7/2018)
Vị thế Phật giáo trong đời sống văn hóa của cư dân xứ Nghệ (31/7/2018)
Năm 2020, con người sẽ "sống hai cuộc đời" (10/7/2018)
Xung đột gia đình trong các vợ chồng trẻ và vai trò của nam giới trong vấn đề bạo lực gia đình (9/7/2018)
Con số bốn trong ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (Qua dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt) (9/7/2018)
Thi ca viết về thầy cô - những người đưa đò thầm lặng (2/7/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,340 | Tất cả: 1,422,440
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp