ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > NON NƯỚC XỨ NGHỆ
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng
Tin đăng ngày: 2/7/2018 - Xem: 64
 

 

Nguyễn Đình Võ

      Upload

Sông Lam, đoạn chảy qua Hưng Nguyên  (Ảnh: Sách Nguyễn)

Tới xã Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên dễ thấy: Mỹ Dụ là một làng lớn, đông dân, hai phần theo đạo thiên chúa, phần còn lại là lương, chủ yếu là con cháu dòng họ này quần cư phía tây đầu làng gần 400 hộ.

     Trong hoàn cảnh đó, đức tổ dòng họ thời bấy giờ là các ông Nguyễn Trí Cự cựu quan chức nhà Nguyễn, triệu tập con cháu lại mà bảo rằng, họ ta đời đời trung quân ái quốc, nay bọn sài lang Pháp đến truyền bá tả đạo nhằm mê hoặc lòng dân làm tay sai cho chúng, con cháu họ ta phải nhất quyết giữ gìn khí tiết không ai được theo chúng, người nào hám lợi đi theo thì họ không chấp nhận. Đây là việc phản kháng ngoại bang, chứ không phải là kỳ thị chống đối tôn giáo. Tiếp theo các vị tổ Nguyễn Huy Tân, Nguyễn Hữu Thành, cũng kiên định cùng con cháu cho tới ngày nay.

     Theo gia phả và các thư tịch dòng họ để lại, thuỷ tổ là ông NGUYỄN THU ĐÀ có nguồn gốc từ một dòng họ lớn, có truyền thống nho giáo yêu nước ở xã Hoa Phẩm, tổng Tam Chế (Kim Cải Tam Đăng) huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang (Kim Cải ĐỨC THỌ). Lúc bấy giờ Nghệ An bao gồm cả phần diện tích Hà Tĩnh.

      Khi Bình Định Vương Lê Lợi dời căn cứ địa từ Thanh Hoá vào Nghệ An, các sỹ tử dòng họ này đã hăng hái ra phò vua giúp nước đánh quân xâm lược nhà Minh, góp phần giải phóng trấn sở Nghệ An lúc bấy giờ là Lam Thành- Phù Thạch, một vị trí chiến lược quan trọng. Sau giải phóng nhiều người đã được giao nhiệm vụ ở lại để bảo vệ xây dựng trấn sở và định cư ở đó.

     Thuỷ tổ Nguyễn Thu Đà là một thức giả đậu tam trướng làm việc ở trấn sở về định cư tại làng Mỹ Dụ khoảng năm 1592-1595. Lúc bấy giờ Mỹ Dụ là ngoại vi của trấn sở Nghệ An. Tại đây có nhiều căn cứ của quân đội nhà Lê, hiện nay vẫn còn dấu tích: “Xóm Trãi, Cầu Trãi, Bến Trãi”- nơi có đồn binh đóng quân; “Đường Lối Voi”- con đường mà voi ngựa quan quân đi lại; “Cánh đồng cỏ ngựa”- nơi chăn dắt ngựa chiến. “Rào Canh”- khúc sông có thuỷ binh trấn giữ.

      Theo dòng lịch sử, từ khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta (1884) trở về trước, dòng họ này có 23 vị đỗ đạt ra phò vua giúp nước. Văn có 12 vị đậu tam trường, hương cống trở lên (7 vị triều Lê, 5 vị triều Nguyễn). Võ có 11 vị, có 2 vị đậu tạo sỹ đứng  đầu ban Võ tương đương tiến sỹ bên Văn. 5 vị đậu võ cử hương công, có vị không rõ đỗ đạt nhưng, có chức vụ cao trong quân đội.

      * Các vị nổi tiếng sau đây:

     Ông NGUYỄN MẠO, đức tổ đời thứ ba, ngài là vị tướng tài kiêm văn võ, giữ chức “Quản lĩnh binh công”, đứng đầu quân đội nhà Lê triều vua Lê Thần Tông (1619-1643) Chân Tông (1643-1649). Ông NGUYỄN HỮU DỰC vị tổ đời thứ tư, con cả ông Nguyễn Mạo vốn giòng võ nghệ, hạng ưu nhất binh, nối nghiệp cha cũng đứng đầu quân đội nhà Lê triều vua Lê Thần Tông (1649-1682). Cảnh quận công NGUYỄN HỮU THỜI, đức tổ con thứ hai của ông NGUYỄN MẠO, vị tướng nổi tiếng võ nghệ tuyệt luân. Giữ chức đô chỉ huy sứ quản hữu Kinh Kỳ triều vua Lê Gia Tông, Hy Tông. Ngài có công lớn trong việc dẹp loạn, giữ vững an ninh quốc gia được nhà vua khen thưởng nhiều lần, sắc phong 8 chữ “Tiên phá tặc luỹ, lũ trảm tặc cấp”, nghĩa là trước phá thành, sau chém đầu tướng giặc lập công. Hưởng lộc tam bách tổng hộ, thất xã. Tại quê nhà dòng họ đã lập miếu thờ ngài bên cạnh từ đường dòng họ, nổi tiếng linh thiêng. Nhiều truyền thuyết ca ngợi sức mạnh và tài trí của ngài*

    Nối tiếp truyền thống cha ông, hậu duệ của dòng họ đời này qua đời khác đều có người phò vua giúp nước.

      * Triều vua Lê Dụ Tông có các ông:

     - NGUYỄN HỮU DUYỆN đậu võ cư hương cống, trúng sinh đồ bổ nhập vào quân đội ưu nhất binh. Thăng nội đề, tiền đề cai đội hậu quản nội nhuệ tả kỳ.

    - NGUYỄN HỮU OÁNH đậu võ cử hương cống, giữ chức vệ uý làm quan ở Kinh Bắc.

      - NGUYỄN HỮU BẢNG đậu võ cử hương cống đăng tam trường là một võ tướng nội triều.

     - NGUYỄN HỮU HẢO đậu tạo sỹ giữ chức “Toát quán tiên kinh kỳ” nội thành Thăng Long.

      - NGUYỄN HỮU NHẬM giữ chức “Tiền Lưu quân”.

      * Triều vua Lê Thuần Tông có các ông:

     - NGUYỄN HỮU NGHỆ đậu võ cử hương cống, một võ tướng trong triều.

       - NGUYỄN VIẾT TRÚC tự là Đình Kiên, đậu tam trường, giữ chức: “Quản sát Đại Lang Kiêm Chính Viễn” chính trực đại thần

     - NGUYỄN HỮU TRÁC đậu võ cư hương cống, đăng tam trường văn võ kiêm toàn làm quan trong triều.

      * Triều vua Hiển Tông – Cảnh Thịnh có các ông:

     - NGUYỄN NGÔ THUYÊN tài kiêm văn võ giữ chức “Quản Sát Đại Lang” “Kiêm Hành Lượng ban sử vụ” Chính trực đại tướng quân sắc phong: “BÌNH TÂY PHẢ HỮU CÔNG TÍCH”.

     - NGUYỄN HỮU VIỆN đậu tạo sỹ giữ chức “Hiến Sát Sư” Tuyên Quang hết lòng trung nghĩa với nhà Lê. Khi nhà Tây Sơn đánh ra Bắc, vua sai ông về Nghệ An chiêu tập quân sỹ để chống giữ nhưng đã thất bại. Ông cùng hai con trai, con rể đều tử trận. Năm Tự Đức thứ 12 ông được thờ ở đền Lê Tiết Nghĩa và cho thuy là “Trung Mẫn” tại Hoàng Thành Thăng Long.

     - NGUYỄN NGÔ THẬN đậu tam trường nhưng, không ra làm quan ở lại quê nhà dạy học, gia đình giàu có, chú tâm làm từ thiện giúp dân và khuyến học, đào tạo người tài cho xã hội.

   * Triều Nguyễn có ông:

     - NGUYỄN TRÍ CỰ hiệu là Thân Trai tiên sinh đậu tú tài, vua Thiệu Trị bổ nhiệm làm huấn đạo huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Vua Tự Đức vinh thăng làm Giáo Thụ Phủ Tự Sơn Bắc Ninh. Ông là người chịu khó nghiên cứu uyên thâm văn học được vua ban chức HÀN LÂM THẢO NGỮ VÀ HÀN LÂM ĐÍNH NGỮ.

      Nhìn chung dòng họ phát triển rực rỡ dưới triều nhà Lê cho đến đầu triều nhà Nguyễn nhưng, khi Pháp chiếm nước ta, do thái độ phản kháng ngoại bang quyết liệt dòng họ bị chúng kỳ thị, đàn áp trở nên nghèo khó lầm than.

      Tuy vậy, lại là chỗ dựa - sợi chỉ đỏ của cách mạng khi có Đảng lãnh đạo.

    Năm 1930 tại đây đã có tổ chức cộng sản do Nguyễn Ngọc Đỉnh, một đảng viên trẻ con cháu của dòng họ phụ trách, phối hợp chặt chẽ với chi bộ Đảng làng Phúc Mỹ - căn cứ địa của xứ uỷ trung kỳ (nay là Đảng bộ Hưng Châu) thành lập các tổ chức cộng sản: Nông hội đỏ, tự vệ đỏ hoạt động sôi nổi một thời. Tuy nhiên do bất lợi về địa chính trị. Nhà cầm quyền địa phương lợi dụng tôn giáo, thành lập đội “LÍNH CỤ” để bảo vệ nhà thờ nhưng thực chất là theo dõi và đàn áp cách mạng. Chúng truy lùng ráo riết Nguyễn Ngọc Đỉnh và các đồng chí của ông, nhiều người bị bắt, bị giam cầm trong đó có ông Chắt Cường cha đẻ của đồng chí Nguyễn Ngọc Đỉnh.

      Nhân dân kiên cường đấu tranh bảo vệ che chở. Chúng không làm gì được. Thời kỳ thoái trào theo chủ trương của Đảng, họ đã xây dựng đền thờ Thành Hoàng lập LƯƠNG GIÁP làm đối trọng, thực hiện tương tế ái hữu giải quyết việc hiếu nghĩa và là nơi để hội họp sinh hoạt, che mắt kẻ địch.

     Cách mạng tháng tám năm 1945 tại đây sớm tiếp thu chủ trương thành lập tổ chức Việt Minh giành chính quyền làng. Uỷ ban cách mạng làng Mỹ Dụ có 5 thành viên thì họ này có 3 thành viên. Ông Nguyễn Ngọc Đỉnh làm phó chủ tịch sau đó là phó chủ tịch xã Mỹ Thành, lúc bấy giờ gồm 4 làng: Mỹ Dụ, Thượng Thôn, Cự Thôn và Thành Công. Trong lúc đó chủ tịch đều giành cho một nhân sỹ người công giáo do yêu cầu của cách mạng cần tranh thủ. Giáp lương nòng cốt là con cháu dòng họ sớm hình thành các đoàn thể cách mạng: Thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, thiếu niên cứu quốc làm nòng cốt để tuyên truyền vận động cách mạng toàn làng, lôi kéo nhân dân công giáo tham gia.

     Trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và xây dựng đất nước, con cháu nội ngoại họ này đều hăng hái tham gia và đã có những công trạng nhất định. Mười lăm liệt sỹ hy sinh vì nước, đông đảo chiến sỹ và sỹ quan quân đội, có đến chức thượng tá, đại tá.

     Nhiều cán bộ trưởng thành từ địa phương đến trung ương, trong đó có thạc sỹ, tiến sỹ. Một số nhân vật tiêu biểu ở địa phương như sau:

   - Chủ tịch bí thư xã gồm các ông: Nguyễn Duyên, Nguyễn Liễn (ngay thời kỳ đầu cách mạng) Nguyễn Văn Chức, Nguyễn Văn Miễn, Nguyễn Đức Kim, Nguyễn Văn Lạng.

     - Cấp huyện thị có các ông Nguyễn Văn Nhị phó bí thư huyện uỷ, sau trung ương điều ra ban miền tây làm trưởng đoàn chuyên gia giúp nước bạn Lào. Ông Nguyễn Ngọc Đỉnh trưởng công an huyện. Ông Nguyễn Văn Khuê chủ tịch UBKCHC thị xã, nay là thành phố Vinh, nổi tiếng thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.

    - Cấp tỉnh có ông Nguyễn Văn Giản phó bí thư thường trực tỉnh uỷ, chủ tịch UBND Nghệ Tĩnh và Nghệ An, một số cán bộ lãnh đạo cấp sở ban ngành, trong đó có anh hùng lao động ngành nông nghiệp Nguyễn Văn Lang.

     Thời gian kháng chiến, nhân dân trong họ tuy nghèo nhưng, là nơi nhiệt tình đón tiếp bộ đội, cơ quan đến đóng quân, làm việc, bà con sẵn sàng giúp đỡ. Nhà thờ họ biến thành kho hậu cần của kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, nhiều người trong họ được tặng thưởng huân chương, huy chương kháng chiến - Gia đình có công giúp đỡ cách mạng. Nhân dân trong họ luôn là đầu tàu đoàn kết lương giáo trong các phong trào hợp tác xã xây dựng nông thôn mới.

Đến nay tuy chưa được xếp hạng nhưng để tưởng nhớ công đức tổ tiên, con cháu dòng họ nhờ cách mạng làm ăn khá giả các nơi đóng góp xây dựng nên khu từ đường khang trang và khu lăng mộ nghiêm cẩn.

       Một địa chí tâm linh giáo dục truyền thống hữu ích.

 

                                                                                             

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

                                                                                                    

Đất và người xứ Nghệ khác:
Thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông (19/9/2018)
Giá trị lịch sử di sản Hán Nôm họ Nguyễn Đăng, xã Hưng Yên Bắc, huyện Hưng Nguyên (12/9/2018)
Trung đoàn 4, Sư đoàn 337 trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979 (12/9/2018)
Tục cúng rẫy của người Khơ Mú (11/9/2018)
Tiến sĩ Đinh Văn Chất trong phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (6/9/2018)
Hang động đầy thạch nhũ lấp lánh ánh vàng ở miền Tây Nghệ An (15/8/2018)
Trai làng Nha Môn (8/8/2018)
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
GS. Phan Huy Lê: chuyên gia hàng đầu về Lịch sử Việt Nam (26/6/2018)
Những bức ảnh đẹp về Bác Hồ (30/5/2018)
Để phát huy tiềm năng lợi thế Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Tây Nghệ An (21/5/2018)
Đền thờ Đức Hoàng Mười ở xứ Nghệ vấn đề văn hóa tâm linh (17/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 7/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,303 | Tất cả: 1,422,403
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp