ĐẤT VÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ > NON NƯỚC XỨ NGHỆ
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ
Tin đăng ngày: 29/6/2018 - Xem: 120
 

Nguyễn Văn Thâm

Văn Thành (có một thời kỳ được gọi là Châu Thành), ngày nay là một xã thuộc huyện Yên Thành, Nghệ An nằm kề với huyện lỵ Yên Thành về phía Bắc. Nếu ai về thăm Văn Thành hiện tại sẽ thấy nơi đây những đồng lúa mùa nối mùa tươi tốt, với hệ thống tưới, tiêu khá hoàn chỉnh. Làng xóm thanh bình với nhiều nhà cửa mới được xây dựng hoặc tu bổ lại đẹp đẽ, nhiều thôn làng đã có điện và nước máy phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân. Nhiều công trình văn hóa đã và đang được xây dựng trên vùng đất này. Đường làng, ngõ xóm đang dần được mở rộng và tu sửa khá rộng rãi và bằng phẳng, đêm về có đèn cao áp chiếu sáng. Văn Thành có thị tứ và các phiên chợ quê khá sầm uất, có trạm xá, trường học được xây dựng khang trang. Có thể thấy ở vùng đất này thành tựu của công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện lên trên nhiều nụ cười mãn nguyện của người dân ở nhiều lứa tuổi. Với hình ảnh một vùng quê như thế, nếu chỉ đi qua đây một lần chưa kịp tìm hiểu, chắc không mấy ai nghĩ đây vốn là một vùng đất cổ, có nhiều truyền thống, đến nay vẫn còn không ít dấu ấn để lại. Cách đây không lâu một số thôn làng ở đây vẫn còn được gọi theo tên cũ như làng Dền, xóm Đình, xóm Rào vì bốn phía đều có rào bao bọc. Các thế hệ trẻ của Văn Thành hôm nay nếu ít quan tâm đến chiều sâu lịch sử của quê mình cũng không mấy ai biết được trong lòng mảnh đất cha ông để lại và mình hiện đang sống hôm nay, đang chứa đựng nhiều câu chuyện của lịch sử cha ông. Làm một phép thử, chẳng hạn khi hỏi về một số địa danh như Kẻ Dền, Kẻ Dinh, bến Thẩm Thuyền, vệ Nhà Rồng, cồn Nhà Nị, đường Tàu voi, đường Vua, hoặc hỏi đường đi Kẻ Sắt, Kẻ Sọt, Kẻ Gám, Kẻ Găng… thì nhiều người thuộc thế hệ hôm nay dù ở ngay trên đất Văn Thành cũng không biết đó là các địa danh từng gắn với đất Văn Thành và những vùng lân cận trong một thời gian dài.

Nhiều nguồn sử liệu còn lại cho đến ngày nay cho phép nhận định rằng Văn Thành xưa kia từng có người Việt cổ sinh sống. Nhiều người dân ở Văn Thành khi đào móng làm nhà, đào ao, làm các công trình thủy lợi… từng đào thấy những vò đất cổ không nung có niên đại khá sớm, dự đoán là được chôn theo người chết trước đây theo tục lệ của người Việt cổ. Nhiều nơi trong xã như ở xóm Rào, đồng Dền, cồn Nhà Nị, đồng Vằng… khi đào móng làm nhà hay đào các công trình thủy lợi, người ta cũng đào được những hòn gạch mỏng không nung nằm dưới những tầng đất khá sâu, được cho là chân của những bức tường cổ ngày xưa còn sót lại. Nếu không có người xưa sinh sống, tạo dựng ở đây thì hẳn những dấu tích như vừa kể là không thể có. Hơn nữa, ở đây kỹ nghệ chế biến đất sét thành các vật dụng phục vụ đời sống hàng ngày từ xa xưa đã có những bước phát triển rõ nét.

Trước đây Văn Thành đồng đất hoang vu. Theo những người cao tuổi ở Văn Thành kể lại thì vùng Truông Đồi, Hòn Ngang, Động Giữa, Hòn Thàng, Động Dẻ, Đồi Ây, Rú Sỏi... trước đây là những khu rừng nguyên sinh có nhiều loại gỗ quý như: lim, dổi, táu, sến, gụ... Bằng chứng là có một số đình đền như đình Thượng, đình Trung, đình Vằng, đình Cả, chùa Dền, chùa Thông và một số nhà thờ họ như: Nguyễn Duy, Phan Đức, họ Đường... đều được làm bằng gỗ lim, gỗ dổi mà theo nhiều người cho biết đã được khai thác từ những khu rừng mà người vùng Yên Thành quen gọi là động, rú, đồi ở chung quanh.

Theo các nguồn sử liệu thành văn còn lại như các cuốn Nghệ An chí của Hoàng Giáp Bùi Dương Lịch(1), Đại nam nhất thống chí và cuốn Lịch sử Yên Thành (Nhà xuất bản Nghệ Tĩnh 1990, tập 1) cũng chép lại, thì dù vùng đất này đã có người ở từ lâu, nhưng chỉ sau này khi chế độ phong kiến hình thành và phát triển, làng xã ở vùng Hoan Diễn (tức Nghệ An ngày nay), trong đó có Văn Thành mới hình thành rõ rệt.

Việc nhà Tiền Lê xây dựng Thành Dền ở Công Trung  (tức Văn Thành ngày nay) được nhắc đến trong cuốn Nghệ An chí của Bùi Dương Lịch như sau: “Lê Hoàn lên ngôi vua năm 980 đã hai lần vào dẹp loạn ở Hoan Châu, tổ chức đào kênh Đa Cái (Hưng Nguyên), Kênh Sơn (Quỳnh Lưu), mở thêm con đường thủy từ sông Bùng qua Nho Lâm vào Cao Ái nối liền với kênh Sắt (thường gọi là kênh nhà Lê) chiêu dân lập ấp, khai phá đất đai phía Nam Hoan Diễn”. Theo một số nguồn sử liệu ghi chép còn lại đến nay thì Lê Hoàn đã cử con trai là Lê Long Toàn (còn gọi là Lê Ngân Tích) phong làm Đông Thành Vương vào trấn trị Châu Diễn. Được hậu thuẫn của vua cha, Lê Long Toàn đã dựa vào thế núi, thế sông để xây lỵ sở tại Kẻ Dền. Tại đây ông đã xây thành đắp lũy, chiêu tập binh lính, tích trữ lương thực, tạo thành một lỵ sở, về sau được mở rộng dần có đủ tiền nha, hậu nha, tiền đường, kho vàng, kho tiền, vườn hoa, tàu voi, bến tắm, đường giao thông... Đây không chỉ là lỵ sở, mà trên thực tế còn có chức năng là một căn cứ quân sự nhằm tạo thế lâu dài và uy danh cho Đông Thành Vương ở đất này. Dấu vết của thành Dền đến nay vẫn còn ở vùng giáp giới hai xã Văn  Thành và Hợp Thành mà trước đây vốn cùng một xã (Công Trung). Đồng thời, tin vào sách phong thuỷ đời Đường (thế kỷ thứ VII sau Công Nguyên) khi cai trị nước ta truyền sang, có ghi: “Tại núi Mồng Gà, xã Lỗi Truyền, huyện Đông Thành, xứ Hoan Châu có một huyệt đế vương”, nên cùng với việc xây thành, đắp lũy ở Công Trung, Lê Long Toàn đã đem hài cốt thân mẫu từ Hoa Lư vào an táng tại Động Huyệt (nay thuộc xã Tiến Thành) để mong được phần âm phù hộ làm nên nghiệp lớn.

Năm 1005 vua Lê Đại Hành băng hà, nhà Tiền Lê rối loạn, Lê Ngân Tích ở ngoài biên ải không về Hoa Lư tranh giành ngôi báu mà ở lại Hoan Diễn tự xưng Hoàng Đế tiếp tục xây dựng Thành Dền, mở mang đường sá, củng cố thành lũy, cố thủ ở Công Trung thuộc đất một số xã của Yên Thành ngày nay. Ông đã cho đắp con đường chiến lược từ Truông Tràng (Quỳnh Tam giáp Tân Thành) đi qua các vùng đất ngày nay thuộc các xã Tiến Thành, Hậu Thành, Phúc Thành và đến Văn Thành rồi hướng sang Truông Bồn. Ngày nay con đường này vẫn còn dấu tích tại xóm Văn Mỹ mà người Văn Thành hay gọi là đường Vua. Lê Ngân Tích đã biến Thành Dền thành một căn cứ quân sự vững chắc để cát cứ ở bờ cõi phía Nam, tự coi mình như vua. Người Hoan Diễn gọi đây là thành Vua Dền. Vua Dền đã từng cầm quân đánh dẹp quân Ai Lao xâm chiếm nước ta. Trận thắng ở lèn Kim Nham (huyện Anh Sơn ngày nay), đã làm cho uy danh Vua Dền vang tiếng cả vùng.

“Lèn Kim Nham nức tiếng Vua Dền

 Đánh thắng giặc từ trên đổ xuống”.

Trong khi đó ở Hoa Lư, Lê Long Đỉnh đã lên ngôi hoàng đế, sau đó đã nhiều lần sai quân vào Châu Diễn và đánh vào lỵ sở Công Trung để dẹp vua Dền nhưng quân của vua Dền khá mạnh đã chống trả quyết liệt. Lê Long Đỉnh đánh nhiều lần không thắng đành phải lui quân về. Năm 1010 Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập nên nhà Lý và quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La - Thăng Long. Lê Long Toàn khi đó vẫn chiếm giữ Châu Diễn, tiếp tục đắp thành, xây lũy, cho quân sĩ bố phòng chặt chẽ, không chịu quy phục nhà Lý. Lý Công Uẩn đã cử nhiều tướng giỏi đem quân vào đánh dẹp nhiều lần nhưng không dẹp nổi. Năm Nhâm Thìn (1012), Lý Thái Tổ phải trực tiếp đưa đại quân thuỷ bộ vào Châu Diễn bao vây Thành Dền. Sách Nghệ An chí của Bùi Dương Lịch có chép: “Năm Thuận Thiên thứ 3 Châu Diễn không tuân vương hóa, vua Lý Thái Tổ phải thân chinh”(2). Quân sĩ vua Dền bị bao vây tứ phía. Quân Lý cắt đường tiếp tế lương thực và tiến công liên tục, quân lính vua Dền núng thế, thương vong ngày càng lớn. Lê Long Toàn và quân sĩ buộc phải bỏ thành Dền chạy về phương Nam, đến Cửa Sót (Thạch Hà - Hà Tĩnh ngày nay) thì bị quân nhà Lý bắt được và giết chết.

Vậy là sau hơn 15 năm xây dựng lỵ sở Công Trung và bảy năm xưng vua, Lê Long Toàn cuối cùng đã thất thủ. Ông đã để lại những dấu tích không phai mờ trong lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Châu Diễn xa xưa, trong đó có Lỵ sở Công Trung (Văn Thành ngày nay). Năm 1012 sau khi giành lại được đất Châu Diễn, Lý Thái Tổ rất quan tâm đến vùng đất này vì đây là phên dậu phía Nam của đất nước. Nhà vua đã chia nước ta thành 24 bộ, riêng vùng Hoan Châu lúc bấy giờ được gọi là Trại. Năm Thiên Thành thứ 3 (1030) vua đổi Hoan Châu thành Nghệ An. Tháng 3-1041 nhà vua cử Lý Nhật Quang vào làm trị trấn châu Nghệ An. Lý Nhật Quang là con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Ông là người thông minh, hiếu học, có chí, 8 tuổi đã biết làm thơ. Những năm làm trấn trị ở Nghệ An, Lý Nhật Quang đã có nhiều công lao to lớn trong việc chiêu tập dân nghèo, binh lính, khai phá ruộng đồng, đào kênh, đắp đê chống lụt... xây dựng Nghệ An thành hậu phương, cung cấp nhân lực, vật lực cho triều đình nhà Lý.

Do có nhiều công lao nên vào mùa Xuân năm Giáp Thân (1044) vua Lý Thái Tông đã phong tước Uy Minh Vương cho Lý Nhật Quang.

Sau khi thị sát tìm nơi đặt lỵ sở, Lý Nhật Quang đã chọn vùng đất Bạch Ngọc (huyện Đô Lương ngày nay) để xây dựng lỵ sở của mình. Năm 1226 nhà Trần lên ngôi. Vị vua đầu tiên của nhà Trần là Trần Cảnh đã cử Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải vào làm quản hạt tại Nghệ An. Ông đã chiêu tập dân nghèo, binh lính từ ngoài Bắc vào và tiếp tục khai phá đất hoang, thu phục nhân tài, xây dựng Nghệ An thành một vùng bảo vệ cho phên dậu đất nước khi đó ở phía Nam và sau này trở thành địa bàn chiến lược trong công cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của quân dân thời nhà Trần. Lịch sử còn ghi công trạng của hai người con Châu Diễn đó là Trạng nguyên Bạch Liêu và Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn đã có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược. Trạng nguyên Bạch Liêu (người làng Thanh Đà xã Tiến Thành - Yên Thành ngày nay)  là một mưu sĩ, nhà chiến lược đã dùng kế sách “tam chung”, để tuyển quân, khai khẩn đất hoang từ Đông Thành tới Kỳ Anh, xây dựng các trang trại, kho tàng tích trữ lương thực. Hoàng Tá Thốn vốn người làng Vạn Phần (Diễn Châu) lên ở tại làng Vạn Tràng (gần vùng đất Văn Thành ngày nay) có tài bơi lội có sức khoẻ, võ nghệ hơn người. Ông đã có công trạng lớn trong các trận thủy chiến đánh thắng quân Nguyên Mông và  được vua ban tước “Sát Hải Đại Vương”. Năm 1269, vua Trần Thái Tông phong anh ruột mình là Trình Quốc Công đại vương Trần Quốc Khang giữ chức Vọng giang Phiêu kỵ đô thượng tướng quân và cử vào trấn giữ Diễn Châu. Trần Quốc Khang đã tiếp tục chọn Công Trung là nơi có thành cũ của vua Dền làm lỵ sở. Một lần nữa Công Trung lại trở thành trung tâm của vùng Diễn Châu cổ đại. Như thế, đất Công Trung - Kẻ Dền (Văn Thành ngày nay) đã hai lần được chọn làm lỵ sở Hoan Châu (đời Tiền Lê và đời Trần). Những năm sau đó, nhất là từ 1270 trở đi, Trần Quốc Khang đã cho xây dựng phủ đệ ở đây khá to và đẹp, bị chính quyền Trung ương cho là “lộng lẫy quá mức bình thường”. Sợ nhà vua nghi ngờ có ý cát cứ vùng này nên ông đã cho đúc chuông đồng, tô tượng Phật để thờ. Trần Quốc Khang đã tuyển các chức quan tại chỗ để giúp ông cai quản vùng đất phía Nam. Trong cuốn Nghệ An chí của Bùi Dương Lịch (trang 109) có chép như sau: “Thân Vương Triều Trần Trần Quốc Khang được coi Diễn Châu, các con thứ của ông là Hữu Nghĩa và Quốc Tĩnh đều do mẹ người Diễn Châu sinh ra. Vì thế chức Tri Phủ ở Diễn Châu đều lấy con cháu Quốc Khang ra làm”.

Về các di tích cổ từng tồn tại trên đất Văn Thành trước hết phải nói đến đình, đền, chùa. Trước đây ở Văn Thành có rất nhiều đình, đền, chùa. Cho đến thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp vẫn còn một số ngôi đình nguyên vẹn như Đình Trung, Đình Thượng và đã được chính quyền dùng tạm làm kho lương thực trước khi chuyển ra mặt trận. Có ngôi đền khá lớn Đền Cả. Có ngôi chùa khá nổi tiếng là chùa Thông nơi có nhiều cây thông to, có giếng nước mạch trong mát (khu vực bệnh viện Yên Thành ngày nay), hay chùa Dền tồn tại khá lâu về sau cho đến thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã được dùng làm trường học khi nơi đây thuộc vùng tự do Liên khu IV. Về ngành nghề, ngoài nghề nông truyền thống, Văn Thành trước đây còn có cả nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải. Tương truyền đó là những nghề được mang từ ngoài Bắc vào từ thời Vua Dền lấy Công Trung - vùng đất có Văn Thành ngày nay làm lỵ sở. Ngày nay chỉ còn nghề xây dựng là giữ được truyền thống. Thợ xây Văn Thành khá khéo tay và có khi đi rất xa để hành nghề.

Trên đất Văn Thành ngày nay thuộc địa phận xóm Rào vẫn còn một con rào (kênh) hình vuông vốn là con kênh đào bao bọc khu trung tâm lỵ sở Công Trung xưa. Hai đầu con kênh này được nối với dòng sông Dinh là con sông tự nhiên của Văn Thành xưa kia, luôn luôn có nước sâu bảo vệ cho khu Trung tâm. Di tích vệ Nhà Rồng nằm trong khu này. Một thời gian sau khi vương triều Trần không còn thì lỵ sở Công Trung cũng dần tàn lụi theo vì các triều đại tiếp theo không lấy Công Trung là lỵ sở như trước.

Tuy nhiên, qua nhiều năm tồn tại, hình ảnh của một lỵ sở nổi tiếng vùng Hoan Diễn xưa vẫn không hoàn toàn bị quên lãng. Trên mảnh đất Văn Thành một thời nổi tiếng, ngày nay vẫn còn nhiều dấu ấn đậm nét, nhiều câu chuyện kể hào hùng về quá khứ. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, vùng đất cổ Văn Thành nay đã khác xưa. Tuy nhiên, lòng tự hào rất chân chính về truyền thống của cha ông vẫn được lưu truyền trong cộng đồng người dân Văn Thành thời đại mới. Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và trong công cuộc chống Mỹ cứu nước, người dân Văn Thành cùng với nhân dân Nghệ An và cả nước đã không tiếc máu xương vì nền độc lập dân tộc. Văn Thành đã góp cho Tổ quốc nhiều người con ưu tú của mình để đất nước có được ngày hôm nay. Trong công cuộc đổi mới mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước đều được người dân Văn Thành phát huy truyền thống có từ xưa ủng hộ tích cực(3). Thế hệ con em của Văn Thành xa quê cũng có nhiều thành tích trong học tập, lao động, và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Tiếp xúc với họ người ta có thể thấy họ rất tự hào về quê hương mình và như luôn được tiếp sức bởi truyền thống quê hương từ những mạch nguồn sâu thẳm.

 

Chú thích

  1. Danh sĩ Bùi Dương Lịch đời Lê Mạt (1592 - 1788), hiệu Ốc Lâu, tự Tồn Thành, Tồn Trai, quê ở làng Yên Đông, huyện La Sơn, thuộc châu Hoan, tỉnh Nghệ An, nay là huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng, sau khi đỗ Hương cống, ông được bổ làm Huấn đạo, nhưng không đi làm. Khi Tây Sơn khởi nghĩa ông chạy về kinh sư. Nhà Tây Sơn vời ông ra làm quan, tuy từ chối, nhưng vẫn từng cộng sự với Nguyễn Thiếp về việc dịch sách nơi Sùng Chính Viện do nhà Tây Sơn thiết lập. Về sau, ra làm quan với nhà Nguyễn Phúc, giữ chức đốc học Nghệ An. Tác phẩm: Nghệ An chí, Nghệ An phong thổ chí.
  2. Xem: Bùi Dương Lịch: Nghệ An chí, Nxb. Khoa học Xã hội, 1993, tr. 212 - 213.
  3. Xem thêm: Lịch sử, địa chí xã Văn Thành, Nxb. Chính trị Hành chính, Hà Nội, 2011.
Đất và người xứ Nghệ khác:
Yên Thành vùng đất cổ (9/11/2018)
Trần Đình Quán - Người yêu nước và nghệ sỹ nhiếp ảnh đầu tiên của xứ Nghệ (9/11/2018)
Tiến sĩ Trần Đình Phong với nền giáo dục, khoa bảng ở Quảng Nam (9/11/2018)
Thẳm Nàng Màn một danh thắng hấp dẫn cho du khách về với Con Cuông (10/10/2018)
Thử nghiệm tour du lịch cộng đồng tại bản Khe rạn, xã Bồng Khê, huyện Con Cuông (19/9/2018)
Giá trị lịch sử di sản Hán Nôm họ Nguyễn Đăng, xã Hưng Yên Bắc, huyện Hưng Nguyên (12/9/2018)
Trung đoàn 4, Sư đoàn 337 trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979 (12/9/2018)
Tục cúng rẫy của người Khơ Mú (11/9/2018)
Tiến sĩ Đinh Văn Chất trong phong trào chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (6/9/2018)
Hang động đầy thạch nhũ lấp lánh ánh vàng ở miền Tây Nghệ An (15/8/2018)
Trai làng Nha Môn (8/8/2018)
Núi Dũng Quyết nơi hội tụ khí thiêng sông núi, một vùng du lịch đặc biệt (9/7/2018)
"Nguyễn Thu Đà" làng Mỹ Dụ - Bề dày truyền thống yêu nước, cách mạng (2/7/2018)
Văn Thành - Những dấu ấn còn lại về một vùng đất cổ (29/6/2018)
Giáo sư Phan Huy Lê: Nhân cách một nhà sử học chân chính (28/6/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
Tạp chí Truyền hình KH-CN số tháng 8/2018
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,570 | Tất cả: 1,508,630
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp