DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Du lịch và vấn đề đưa "đặc sản" dân ca ví, giặm vào hoạt động du lịch ở xứ Nghệ
Tin đăng ngày: 29/6/2018 - Xem: 19
 

PGS.TS Phan Mậu Cảnh

Upload

                                                                   Ảnh: Sỹ Minh

1. Du lịch là một nhu cầu tinh thần tự nhiên, cần thiết mà con người không thể thiếu song song với nhu cầu vật chất (ăn, ở, hít thở, ngủ, nghỉ, mặc); rộng hơn đó là nhu cầu thụ hưởng các giá trị vật chất và tinh thần, là khát vọng tìm hiểu, thưởng thức, khám phá thế giới xung quanh. Trong thế giới hiện đại, khi cái ăn, cái mặc về cơ bản đã được đảm bảo, chất lượng sống tăng lên, phương tiện giao thông, thông tin ngày càng thuận lợi và nhanh chóng, xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng, mang tính toàn cầu hóa, thì những nhu cầu, khát vọng của con người tăng lên, không gian sinh tồn giao lưu trở nên rộng mở hơn bao giờ hết. Ngày nay, con người còn có những nhu cầu mới về trải nghiệm, chia sẻ, thỏa chí đam mê, tìm nơi dưỡng tâm, an lạc. Khách du lịch có nhiều đối tượng (trong nước, nước ngoài; khách ngắn hạn, dài ngày) đủ các lứa tuổi, thành phần, địa vị, sở thích. Nhưng có điểm chung về tâm lý du lịch, theo Henry Miller: “Đích đến của chúng ta không phải là một vùng đất, mà là một cách nhìn mới”, đó là nhu cầu muốn tìm hiểu (cái lạ, mới) và thưởng thức (cái hay, cái đẹp) của nơi đến. Nhu cầu ấy không hẳn là ở những địa danh hiện đại, quy củ có bàn tay nhân tạo mà chính là ở những vùng thiên tạo, thậm chí hoang dã, cổ xưa miễn là có bản sắc, riêng có của điểm du lịch. Nói một cách đơn giản, du lịch ngày nay cần làm thoả mãn các giác quan của du khách về cái mắt (quan sát cảnh vật, môi trường, phong tục tập quán), cái miệng (thưởng thức các đặc sản ẩm thực), cái cảm giác (thấu cảm hương vị của thiên nhiên, của tình cảm) và cái tai (thưởng thức âm thanh của tự nhiên, của nhân tạo), v.v... Các tiến bộ của khoa học công nghệ đang vươn tới tìm những phương cách để con người thoát khỏi cái hữu hạn của không gian và thời gian, mở ra chiều kích mới và nhiều triển vọng cho tương lai nhân loại. Du lịch chính là một trong những hoạt động khả dĩ có thể đáp ứng tối ưu các nhu cầu, khát vọng đó của con người.

Nắm bắt được xu thế đó, quốc gia nào cũng có những chủ trương, chính sách phát triển hoạt động du lịch, xem đó như ngành kinh tế mũi nhọn - công nghiệp “không khói”, có khả năng phát triển đất nước giàu mạnh, bền vững, hội nhập sâu rộng... Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác”. Ngành du lịch Việt Nam còn non trẻ - mới có khoảng 20 năm xây dựng và phát triển - nhưng chúng ta đã thu được nhiều kết quả khả quan trong việc đầu tư phát triển du lịch. Mỗi vùng miền cũng đã chú ý, coi trọng “làm” du lịch.

Upload

2. Trong những năm qua, chính quyền và ngành du lịch hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có những kế hoạch chiến lược, thực hiện việc phát triển du lịch địa phương bằng việc đầu tư hạ tầng, khai thác các điểm du lịch và dịch vụ ở các địa phương khá tốt; đã và đang có kế hoạch liên kết phát triển du lịch Nam Nghệ - Bắc Hà, Nam Thanh - Bắc Nghệ; mô hình “Ba quốc gia - một điểm đến” (ý tưởng: một ngày đi đến ba nước: Việt - Lào - Thái, nghỉ ở một điểm)... Trong những năm qua, cùng với du lịch cả nước, du lịch Nghệ - Tĩnh đã có những bước phát triển đáng ghi nhận; lượng khách, chỉ số cạnh tranh, môi trường, chất lượng du lịch... năm sau tăng hơn năm trước.

Bên cạnh những thành công, những kết quả nổi bật trong thời gian vừa qua, hoạt động du lịch xứ Nghệ vẫn còn những hạn chế “cố hữu” (mà du lịch các vùng miền và cả nước đều đang tồn tại ở những mức độ khác nhau) nên thiếu tính hấp dẫn để thu hút, lưu giữ khách lâu dài; lượng khách một đi không trở lại nhiều hơn lượt khách mong muốn “See you again”!... Nguyên nhân thì có nhiều nhưng thường gặp nhất là: cảnh quan, điều kiện tự nhiên phong phú nhưng ngành du lịch mới chú trọng khai thác cái thiên tạo, cái sẵn có mà chưa chú ý đầu tư nâng cấp, tôn tạo chúng; cơ sở hạ tầng, dịch vụ, sản phẩm phục vụ còn hạn chế, nghèo nàn; các điểm du lịch khác cũng thường đơn điệu (thiếu nơi vui chơi, giải trí, thư giãn tinh thần); đội ngũ làm du lịch chưa thực sự chuyên nghiệp; sự phối hợp (từ cơ quan quản lý đến các công ty du lịch) chưa đồng bộ, thụ động; chương trình nội dung các tour du lịch còn cứng nhắc, thiếu tính hấp dẫn; công tác quảng bá các đặc sản, sản phẩm của địa phương chưa được chú trọng khai thác... Nhìn chung, tổ chức hoạt động du lịch của vùng Nghệ Tĩnh nói chung, Nghệ An nói riêng còn nhiều hạn chế so với các vùng, miền trong nước và khu vực.

Để khắc phục được những hạn chế đó, thiết nghĩ, cần phải có chủ trương và xây dựng kế hoạch lâu dài, bài bản, thống nhất và sự phối hợp của tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị của hai tỉnh. Các giải pháp mà ngành du lịch hai tỉnh đã nêu ra trong năm 2018 là đúng hướng, cần thiết nhưng cần triển khai cụ thể và kịp thời hơn. Cần học tập, hợp tác và liên kết với các vùng du lịch trong nước, đặc biệt là các nước trong khu vực... Một trong những hướng để thu hút và tạo dấu ấn cho du khách là huy động, khai thác hợp lý môi trường cảnh quan tự nhiên (du lịch sinh thái) và các đặc sản văn hoá của vùng đất này. Chủ trương của các cấp chính quyền, của ngành cũng đã xác định: Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ môi trường và thiên nhiên; giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội (NQ 08/NQ-TW).

Khai thác đặc sản vùng quê xứ Nghệ đưa vào hoạt động du lịch là một hướng khả dụng, góp phần nâng cao chất lượng và thu hút khách du lịch. Một trong những đặc điểm đặc thù, nổi tiếng được truyền tụng xưa nay xứ Nghệ là vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, “Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Quả thật, xứ Nghệ (bao gồm hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh) là một vùng đất non nước hữu tình, hội đủ các điều kiện tự nhiên - xã hội để thu hút khách thập phương, với những hành trình du lịch phong phú, như: du lịch biển (Cửa Lò, Cửa Hội, Bãi Lữ, Cửa Hiền, Thiên Cầm), du lịch sinh thái (Pù Mát, Ngàn Trươi, Vũ Quang), du lịch nhân văn - tâm linh (các di tích lịch sử, khu lưu niệm, đền chùa: đền Cờn, chùa Hương Tích, Ngã Ba Đồng Lộc, Truông Bồn) và những điểm du lịch khác mang tính tích hợp, với cảnh quan thiên nhiên hữu tình: núi Hồng sông Lam, núi Dũng Quyết, đảo chè Cầu Cau - Thanh Chương, Hòn Ngư, Đảo Mắt... Các vùng của hai tỉnh còn có các sản vật “cây nhà lá vườn” nổi tiếng đã thành thương hiệu, như: cam Xã Đoài, bưởi Phúc Trạch, cháo lươn Hưng Nguyên, tương Nam Đàn, cu đơ Cầu Phủ, v.v...

Với những cảnh quan địa linh “trời cho” như vậy, cái còn lại là chúng ta cần phải tổ chức, nối kết cả ở lĩnh vực “nhân kiệt” (như khu lưu niệm quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu lưu niệm Nguyễn Du, đền Quang Trung, đền Hoàng Mười, Phượng Hoàng Trung Đô và các di tích lịch sử khác) thành một hệ thống du lịch có tính chuẩn mực và phổ quát (như mọi miền) nhưng lại cần có tính đặc thù (chỉ riêng ở xứ Nghệ). Điểm đặc thù này, phải chăng là làm cho du khách đến xứ Nghệ cảm thấy một cách ấn tượng về vùng đất vốn từng là phên dậu của thuở dựng nước, từng là nơi gánh hai đầu đất nước trong hai cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc. Điểm nhấn rõ nhất cần làm cho du khách thấy được rằng: xứ Nghệ là một vùng đất cổ xưa, còn lưu giữ được những phong tục tập quán của cư dân nông nghiệp cổ truyền đặc sắc. Cùng với việc xây dựng các công trình hoành tráng (khách sạn, nhà hàng, resort) như các vùng khác, thế mạnh xứ Nghệ lại chính là những đặc sản lưu giữ nét xưa cũ của hồn quê dân tộc Việt. Theo hướng đó, có thể tiếp tục xây dựng các kiến trúc hệ thống nhà vườn, với cây, con, cái mang dáng dấp của làng xóm xưa như: vườn cây trái (trầu cau, chuối, bưởi, khoai, sắn, chè xanh), những sự vật quen thuộc (cối xay, cối giã gạo, dần, sàng, thúng, mủng; giếng khơi, đài múc nước), những công cụ làm nghề phụ (nơm, vó, trúm, lừ; xa quay tơ, xe cút kít), trang phục của người dân quê (áo tơi, nón lá, mấn, yếm, khăn búi tóc), phong tục trò chơi (cầu kiều, đu, thả diều, đánh bi đánh đáo...), v.v...

Những vật dụng này chúng ta có thể sưu tầm hay mô phỏng được vì quá khứ hãy còn chưa xa. Cùng với đó là tập hợp, tổ chức các tour giới thiệu các sản phẩm phục vụ nhu cầu thưởng thức, làm quà, làm kỷ niệm của du khách (những đặc sản không nơi nào có, như: nước chè xanh, cháo lươn; cam Vinh, nhút, tương, nước mắm, bánh đa, bánh đúc, bánh ngào, chè kê). Các vùng khác trong nước và nước ngoài (như Huế, Đồng Tháp; Thái Lan, Trung Quốc) cũng đã tổ chức du lịch theo hướng này và khá thành công. Dĩ nhiên, chúng ta không đơn thuần phục dựng những cái cổ xưa một cách đơn điệu, máy móc mà kết hợp nhiều hướng khai thác khác, trong đó có cả những yếu tố kiến trúc, kỹ thuật công nghệ hiện đại, theo nhu cầu đối tượng nhưng nếu tạo ra một môi trường và những hành trình du lịch có điểm nhấn hướng vào những đặc trưng xứ Nghệ như thế ngõ hầu góp phần nâng cao chất lượng du lịch; đó cũng là một cách để thu hút du khách xa gần, không chỉ đối với du khách ngắn ngày (nhân dịp) mà cả du khách lâu dài... 

Nói đến văn hoá xứ Nghệ không thể không nhắc đến dân ca ví, giặm, một trong những đặc sản tinh hoa của vùng đất này. Tìm về dân ca là tìm về cái nguyên sơ, cội nguồn, thanh tĩnh, phù hợp với tâm lý của số đông nhiều người sống trong thế giới chật hẹp, bê-tông hóa, âm thanh chát chúa, ánh sáng chói lòa, âm nhạc “lấy mắt bù tai”. Cho nên, dân ca là một trong số vốn liếng quý, là “đặc sản” cần khai thác; đưa dân ca vào trong hoạt động du lịch cũng là một trong những giải pháp nhằm thu hút du khách ở các vùng quê khác, kiều bào và khách du lịch nước ngoài... Nhiều địa phương trong cả nước đã đưa dân ca, dân nhạc vào hoạt động du lịch khá thành công, như dân ca quan họ, chèo, hát xoan (du lịch xứ Bắc), dân ca Huế (du lịch Bình Trị Thiên), cải lương, đờn ca tài tử (du lịch phương Nam)... Đôi khi, phần “dịch vụ”, phần “hương hoa, khuyếch trương, thư giãn tinh thần” cho du khách, nhưng nếu biết vận dụng phù hợp lại góp phần quan trọng cho thành công (hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn mặt tinh thần, tình cảm) của hoạt động du lịch.

Dân ca ví, giặm lại là lối hát tự nhiên, mộc mạc tình làng quê, rất phù hợp với các hoạt động du lịch, các hành trình du lịch bởi tính mởđộng của nó: thích ứng với mọi hoàn cảnh (thời gian: quá khứ đến hiện tại, gián tiếp hay trực tiếp; không gian: trang trọng, lễ hội, sân khấu đến những cuộc vui, trên đồng ruộng, lúc chèo thuyền, dệt vải); có thể đề cập đến nhiều lĩnh vực: từ lĩnh vực bác học, “lĩnh vực văn hoá cao siêu” (giáo dục đạo đức, thế thái nhân tình) đến những lĩnh vực đời thường, “tương cà mắm muối, thậm chí có cả những cái tếu táo, thông tục, dung tục; dân ca có thể hát trong các cuộc vui (lễ hội, đám cưới), có thể hát trong khi buồn (đám tang, cầu nguyện); đối tượng hát và nghe có phổ rất rộng: mọi lứa tuổi, mọi thành phần: nhà nho, quan chức, người bình dân...; người hát có thể hát đúng làn điệu cũng có thể hát linh hoạt, không cần tuân thủ nghiêm nhặt; hình thức dân ca có thể mượt mà, nhịp nhàng theo các thể văn vần (ca dao, lục bát biến thể, thơ có vần) hay kiểu lời nói thường, không cần nghiêm nhặt về vần điệu, số lượng câu chữ; khởi phát của dân ca là lối hát không nhạc nhưng có thể có nhạc đệm (như hiện nay); ca từ dùng nhiều từ địa phương, phát âm địa phương nhưng một câu ca dao các vùng khác cũng có thể hát theo kiểu hò, ví, giặm; có thể hát đơn, hát đối, hát tập thể, v.v... Chính vì vậy, dân ca Nghệ Tĩnh là một loại sinh hoạt văn nghệ thích ứng với mọi người, mọi thời, ngay cả hiện nay, khi tâm lý, thị hiếu của người hát, người nghe, môi trường lao động đã có rất nhiều thay đổi...

Việc đưa dân ca vào trong hoạt động du lịch cũng đã được chú ý và thực hiện bước đầu có hiệu quả. Bởi vì đưa dân ca vào trong chương trình hoạt động du lịch là một hướng đi có tính khả thi (phù hợp với tâm lý của du khách, không cần đầu tư trang thiết bị nhiều), đạt được nhiều mục đích: vừa bảo tồn, phát huy được dân ca, lại vừa đạt được mục đích kinh tế, phát triển du lịch. Kết quả của việc khai thác các giá trị của dân ca ví, giặm vào hoạt động du lịch thể hiện ở mấy điểm nổi bật: các địa phương đang triển khai kế hoạch hỗ trợ các CLB dân ca hoạt động, từng bước đưa dân ca thành sản phẩm du lịch văn hoá. Một số điểm du lịch ở trên địa bàn hai tỉnh đã bước đầu biểu diễn dân ca các dịp khánh thành, tổng kết, liên hoan của các cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp; giao lưu tiếp khách; phục vụ các tour du lịch trong phạm vi nhỏ. Có nơi đã bắt đầu xây dựng kế hoạch hát dân ca mang tính bài bản hơn (như: đưa dân ca phục vụ khách du lịch tại khu di tích Kim Liên, khu du lịch Cửa Lò, khu lưu niệm Nguyễn Du, du thuyền trên sông Lam hay tại các tỉnh khác (điển hình là CLB dân ca ví, giặm tại Hà Nội...). Cảm tưởng chung là khi có các tiết mục dân ca đi kèm, cùng với lời thuyết minh của hướng dẫn viên trong các tour đường dài, ở các buổi giao lưu thì hiệu quả của chuyến đi tăng lên rõ rệt (tăng sự hưng phấn, thú vị, hòa đồng, thân thiện; giảm sự đơn điệu, buồn tẻ, mệt mỏi)...

Tuy nhiên, việc khai thác dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh như là sản phẩm du lịch đang gặp những khó khăn nhất định. Những hạt nhân nòng cốt (các nghệ nhân, những người am hiểu và hát được dân ca) mai một dần; việc trao truyền cho các thế hệ sau, cho lớp trẻ chưa liên tục và bài bản; các tư liệu, tài liệu về dân ca chưa được biên soạn hệ thống và quảng bá rộng rãi như là một sản phẩm du lịch; các CLB dân ca hoạt động chủ yếu là tự giác, tự nguyện mà chưa được đầu tư kinh phí và chương trình hoạt động chưa phong phú; sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan chưa đồng bộ, chặt chẽ,v.v...

Để khắc phục những hạn chế trên, một mặt cần bám sát, thực thi chủ trương “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch” (NQĐH 10, ĐCSVN); “Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch các di tích lịch sử văn hoá, kết hợp với du lịch, tạo nên các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương” (QĐ 2468, 29-12-2015 của Thủ tướng Chính phủ). Mặt khác cần có cơ chế và triển khai mạnh mẽ hơn nữa, như: chương trình đưa dân ca vào các hoạt động du lịch như là một điều kiện hoạt động và tiêu chí xếp loại du lịch của địa phương; có kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn dân ca ví, giặm cho các hướng dẫn viên du lịch, các thành viên CLB du lịch tại các điểm du lịch trong tỉnh; biên soạn, sản xuất các ấn phẩm dân ca, như: tranh ảnh, sách báo, băng  đĩa và các sản phẩm khác (in ấn công phu, đẹp) phổ biến, quảng bá ở các tour du lịch, các điểm du lịch đồng thời với việc tạo ra các sản phẩm, sản vật địa phương phục vụ nhu cầu của du khách; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, điều hành, tổ chức, các doanh nghiệp du lịch với CLB dân ca, các nhà trường (nhất là trường đang đào tạo dân ca) với các đoàn nghệ thuật trong tỉnh để quảng bá dân ca ví, giặm và tổ chức trình diễn dân ca trong các hoạt động du lịch...

Upload

                                                                     ảnh: nguồn facebook Dancavigiam

3. Đối với hoạt động du lịch, nhất là trong thời đại cạnh tranh, du lịch “mọc lên như nấm” hiện nay, để hoạt động du lịch của một đơn vị, địa phương đứng vững, giành phần “thắng” thì một mặt phải tuân thủ và làm tốt nguyên tắc và yêu cầu của nghiệp vụ kỹ trị du lịch, mặt khác chính là phải tìm ra cái độc đáo, cái riêng có, cái ấn tượng để đáp ứng nhu cầu của “thượng đế” một cách tốt nhất! Nhiều du khách, nhất là khách nước ngoài, người ta có xu hướng thích tìm hiểu, khám phá tự nhiên (du lịch sinh thái), trở về với nguồn cội, cổ xưa và tâm linh (du lịch nhân văn)... Cho nên, những sản phẩm thuộc đặc sản, bản sắc địa phương có khả năng thu hút, lôi cuốn khách du lịch rất lớn. Cùng với việc khai thác các giá trị của cảnh quan tự nhiên (biển, sông, núi, hang động) và các giá trị của sáng tạo vật chất nhân tạo (đền, chùa, lăng tẩm, nhà hàng, khách sạn, sản vật, thời trang, ẩm thực) phục vụ cho hoạt động du lịch, thì ngày nay, ngành du lịch, các địa phương cũng đã và đang tích cực khai thác giá trị văn hoá truyền thống (như: múa rối nước, trang phục, nhạc cụ, lễ hội, phong tục các dân tộc thiểu số) vào trong các tour du lịch, các điểm tham quan, du lịch. Thực tế cho thấy, vùng miền nào, địa phương nào tổ chức dịch vụ tốt, biết khai thác thế mạnh của mình, tạo điểm nhấn thì du lịch vùng đó có cơ hội phát triển, thu hút du khách.

Thiết nghĩ, trên cái nền của những lợi thế và tiềm năng về tự nhiên và con người, xứ Nghệ còn có những đặc sản độc đáo, riêng có, như: phong tục, ẩm thực, sản vật xứ Nghệ, cùng với dân ca. Tất cả phải châu tuần lại, tích hợp thành một nguồn lực mạnh, thương hiệu hấp dẫn, đủ sức thu hút đầu tư và du khách để góp phần thật rõ rệt vào việc đưa xứ Nghệ bứt tốc nhanh về kinh tế - văn hóa - xã hội trong chặng đường phía trước, phấn đấu đưa Nghệ An - Hà Tĩnh vào danh sách những điểm đến hấp dẫn, một nơi đáng sống như nhiều trung tâm du lịch trong cả nước.

 

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Diễn đàn khác:
Hãy nghĩ để hướng tới ngành trông rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp cho miền Tây Nghệ An (9/7/2018)
Ý kiến về cải cách giáo dục: Thầy giáo phải có tri thức uyên bác và văn hóa cao (9/7/2018)
Du lịch và vấn đề đưa "đặc sản" dân ca ví, giặm vào hoạt động du lịch ở xứ Nghệ (29/6/2018)
Thay đổi tư duy và cách làm để phát triển du lịch văn hóa (28/6/2018)
Tham nhũng và tham nhũng tinh thần (28/6/2018)
Về việc “đánh giá lại” lịch sử (26/6/2018)
Đặc khu - Động lực phát triển và giá trị bền vững (18/6/2018)
Nhìn lại 5 năm thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ (24/5/2018)
Luận bàn về CHỮ và NGHĨA (17/5/2018)
Việt Nam qua ghi chép của người phương Tây: Tang lễ một ông vua Đàng Ngoài (10/5/2018)
Việt Nam qua ghi chép của người phương Tây: Lễ đăng quang của vua (9/5/2018)
Bàn về việc người xưa "Tiến cử, lựa chọn" và chuyện "Một người làm quan cả họ làm quan" ngày nay (18/4/2018)
Đánh thuế thông minh (16/4/2018)
Kiến tạo thu nhập cao: Sao khó thế?! (13/4/2018)
Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam (5/4/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách
Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
Giới thiệu sách Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 460 | Tất cả: 1,294,321
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn