KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Thương mại hóa trí thức dân gian các dân tộc thiểu số
Tin đăng ngày: 29/6/2018 - Xem: 24
 

 

Bùi Thông Thiện

 Trong xã hội hiện đại, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhiều tri thức dân gian của các cộng đồng đã chuyển thành hàng hóa trên thị trường. Càng ngày, quá trình thương mại hóa tri thức dân gian càng trở nên phổ biến, nó đặt ra nhiều vấn đề quan trọng cần phải giải quyết ở các quốc gia và các địa phương. Đó là những vấn đề như bản quyền sở hữu trí tuệ, phân chia lợi ích, bảo tồn văn hóa cộng đồng hay hạn chế các xung đột văn hóa…

  1. Thương mại hóa tri thức dân gian trong xã hội hiện đại

Trong nền kinh tế hiện đại, quá trình thương mại đã và đang tác động mạnh mẽ đến các yếu tố văn hóa, tạo thành quá trình thương mại hóa văn hóa. Có thể hiểu thương mại hóa văn hóa là quá trình đưa các giá trị văn hóa truyền thống vào thị trường để phát triển kinh tế và tìm kiếm lợi nhuận qua việc biến giá trị văn hóa thành hàng hóa để đưa ra trao đổi hay các dịch vụ trong thị trường. Quá trình thương mại hóa văn hóa một mặt làm thay đổi, mất mát các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng, các tộc người. Mặt khác, nó cũng làm cho nền văn hóa truyền thống của các cộng đồng trở nên năng động hơn, tham gia vào sự phát triển và tạo ra cơ hội nhiều hơn để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Nhưng các nền văn hóa khi tham gia nhiều vào thị trường cũng không còn thụ động. Đến một mức độ nhất định, con người lại chủ động tham gia và phát triển kinh tế thị trường theo các giá trị văn hóa của mình, tạo thành quá trình văn hóa hóa thị trường ở các tộc người, các cộng đồng. Hai quá trình này thường đi song song với nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau. Kinh tế thị trường càng phát triển thì quá trình thương mại hóa văn hóa càng mạnh mẽ, và ngược lại, càng tham gia nhiều vào thị trường thì quá trình văn hóa hóa thị trường cũng sâu sắc hơn. Đó là một quá trình kép ở các cộng đồng (Trần Văn Bính, 2013).

Trong quá trình thương mại hóa văn hóa thì thương mại hóa tri thức dân gian thể hiện rõ nét hơn cả. Tri thức dân gian được hiểu là hệ thống các tri thức, kinh nghiệm được hình thành trong quá trình hình thành và phát triển của một cộng đồng và được cộng đồng công nhận. Tri thức dân gian là một nguồn vốn cộng đồng, một nguồn lực chung của cộng đồng trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, nguồn lực này lại được thể hiện khác nhau thông qua các cá nhân khác nhau trong các cộng đồng đó. Thương mại hóa tri thức dân gian là quá trình sử dụng các tri thức dân gian để tạo ra các sản phẩm hàng hóa hay các dịch vụ phục vụ thị trường và tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích kinh tế. Trong xã hội hiện đại, quá trình thương mại hóa các tri thức dân gian ngày càng mạnh mẽ hơn, chủ yếu trên các lĩnh vực thương mại hóa tri thức dân gian về y dược học, thương mại hóa tri thức dân gian về thủ công nghiệp truyền thống… Quá trình thương mại hóa tri thức dân gian đã góp phần vào việc phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các cộng đồng lên cao hơn. Nhưng mặt khác, nó cũng tạo ra nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết. Đó là sự xung đột lợi ích giữa các cộng đồng, sự xung đột về văn hóa, sự mai một mất mát các giá trị văn hóa truyền thống hay vấn đề cấp bản quyền sở hữu trí tuệ.

Vấn đề sở hữu trí tuệ, bản quyền thương mại và lợi ích của các cộng đồng chủ thể của các tri thức dân gian không phải là câu chuyện mới mẻ trong giới nghiên cứu phát triển. Những bàn luận liên quan đến vấn đề này được nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới (World Bank) quan tâm từ những năm cuối thế kỷ trước. Đầu thế kỷ XXI, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về những bất cập trong mối quan hệ giữa các công ty được cấp bản quyền sở hữu trí tuệ các sản phẩm liên quan đến tri thức dân gian và các cộng đồng chủ thể của tri thức đó. Nghiên cứu của Philip Schuler (2004) về sự xung đột liên quan đến việc sử dụng thuốc trừ sâu từ cây gỗ đào ở Ấn Độ là một ví dụ. Người dân Ấn Độ đã sử dụng sản phẩm từ cây gỗ đào để làm thuốc trừ sâu và chống nấm từ hàng ngàn năm nay. Nhưng ở Mỹ và châu Âu có nhiều bản quyền chứng nhận sở hữu trí tuệ về sản phẩm cây gỗ đào được cấp cho các công ty hóa chất để sản xuất và buôn bán. Tuy nhiên, việc cấp bản quyền cho các công ty này chưa ngăn cản người nông dân Ấn Độ sản xuất và sử dụng các sản phẩm từ cây gỗ đào theo cách chiết xuất truyền thống. Nhưng đến năm 1993, khi Công ty P.J. Margo Private Ltd (một đối tác của Công ty hóa chất W.R.Grace - công ty được cấp bản quyền về sản phẩm này ở Mỹ) đã sản xuất và tiếp thị loại thuốc trừ sâu từ gỗ đào vào Ấn Độ, đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của một bộ phận nông dân thì nhiều cuộc biểu tình phản đối sự liên kết của hai công ty này. Năm 1995, nhiều nhóm đã liên kết lại kiện các tổ chức cấp bản quyền ở Mỹ và châu Âu vì cho rằng sản phẩm này đã được người dân sản xuất và sử dụng từ nhiều thế kỷ nay. Nó buộc tổ chức cấp bản quyền ở châu Âu phải hủy bỏ bản quyền của sản phẩm này nhưng ở Mỹ thì vẫn còn giá trị. Hay những tranh chấp từ bản quyền của gạo Basmati của một số nông dân Ấn Độ với một công ty kinh doanh gạo của Mỹ; Tranh chấp về loại đậu vàng “Mayacoba” của nông dân     Mexico với một công ty nông nghiệp Colorado… Hầu hết những cuộc tranh chấp này đều đi đến những kết quả khác nhau, tuy nhiên, những nhà nghiên cứu đều có mục tiêu chung là mong muốn mang lại nhiều lợi ích hơn cho các cộng đồng đang sở hữu những tri thức mà nhiều công ty đã và đang tiến hành thương mại hóa các sản phẩm từ những tri thức đó. Và trên thực tế, nhiều cuộc đấu tranh đó đã đưa lại kết quả nhất định. Trong một nghiên cứu liên quan đến những thỏa thuận về đa dạng hóa sinh học và phân chia lợi nhuận với cộng đồng địa phương ở Ấn Độ, hai nhà nghiên cứu Kerry Ten Kate và Sagrah A. Laird (2004) đã cho thấy các nhà nghiên cứu, các công ty sản xuất có thể kết hợp với người dân địa phương trong việc thương mại hóa tri thức dân gian. Dẫn chứng là việc các nhà nghiên cứu Vườn thực vật nhiệt đới và Viện nghiên cứu (TBGRI) của Ấn Độ đã phối hợp với một số người dân Kani (một nhóm người thiểu số ở Tây Nam Ấn Độ) đi sưu tầm và tìm ra hoạt chất phục hồi sức khỏe. Họ chuyển quyền sản xuất cho Công ty dược Coimbatore Aryavaidya Ltd sản xuất ra thuốc Jeevani và chia sẻ nhau lợi ích với tỷ lệ 50-50. Cộng đồng Kani cũng đã lập ra một hội đồng để quản lý nguồn tiền thu được và sử dụng vào phát triển chung và phúc lợi cho người dân trong vùng.

Ở Việt Nam, quá trình thương mại hóa văn hóa nói chung và thương mại hóa tri thức dân gian nói riêng đang ngày càng mạnh mẽ. Ở các dân tộc, các vùng miền khác nhau thì quá trình này cũng thể hiện khác nhau tùy theo sự phát triển của kinh tế thị trường cũng như trình độ phát triển của các tộc người. Có những cộng đồng, các sản phẩm từ tri thức dân gian đã trở thành hàng hóa có thương hiệu và được buôn bán ở nhiều nơi trong và ngoài nước. Có những cộng đồng thì mới bắt đầu làm quen với quá trình thương mại hóa các tri thức dân gian. Mỗi địa phương, mỗi tộc người, mỗi cộng đồng đều có những đặc trưng riêng trong quá trình thương mại hóa các tri thức dân gian cũng như thương mại hóa văn hóa.

  1. Thương mại hóa tri thức dân gian ở Nghệ An hiện nay

2.1. Thương mại hóa tri thức dân gian về dược học

Nghệ An là một địa phương có nhiều cộng đồng tộc người sinh sống và có một nguồn vốn tri thức dân gian đa dạng và phong phú về y học cổ truyền từ các cộng đồng tộc người khác nhau. Lại là một địa phương có diện tích tự nhiên rộng lớn, có sự đa dạng về mặt sinh học, nhất là về nguồn gen các loại cây dược liệu ở vùng miền Tây Nghệ An, nơi được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Theo điều tra chưa đầy đủ thì đến nay, Nghệ An có gần 1.000 loài cây dược liệu thuộc 365 chi của 183 họ. Đây là một tiềm năng, một nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển khi đặt cạnh kho tàng tri thức dân gian của các cộng đồng sống trên địa bàn. Trong điều kiện tự nhiên ban cho một kho thuốc quý, việc các cộng đồng, những người dân vận dụng những tri thức, kinh nghiệm của mình để khai thác lại trở nên đa dạng hơn. Trước đây, người ta chủ yếu khai thác để phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bản thân và gia đình. Chỉ có một số thầy lang đi tìm kiếm và dự trữ các loại cây thuốc để chữa bệnh. Còn ngày nay, nhiều người dân đã biết khai thác các cây dược liệu để đem bán kiếm thêm thu nhập.

Một ví dụ như việc nhóm người Nùng từ Cao Bằng di cư vào sinh sống tại xã Yên Khê, huyện Con Cuông. Khi mới vào họ sinh sống bằng việc trồng chè, nhưng do thu nhập từ trồng chè ngày càng trở nên khó khăn, hạn chế, họ quay qua sử dụng những tri thức dân gian về y học của mình để khai thác các dược liệu và đem bán cho thương lái. Những người có hiểu biết về y học cổ truyền đã đi lên các vùng rừng núi gần đó để kiếm các loại cây thuốc như cây sâm đá, linh chi, hà thủ ô, huyết giác, củ bình vôi, cây lá gai... Họ xử lý ban đầu rồi gom lại để đi bán cho những người đi buôn. Hiện nay, nhiều người không chỉ đi lấy cây thuốc mà còn đứng ra gom cây thuốc từ nhiều hộ gia đình rồi mang ra ngoài Bắc bán, có khi họ còn bán sang Trung Quốc. Và thu nhập từ việc khai thác cây thuốc cũng trở thành một phần quan trọng đối với những người Nùng ở đây.

Khác với nhóm người Nùng ở Yên Khê chủ yếu là khai thác các dược liệu tự nhiên, nhóm người Thái ở Chi Khê gần đó không chỉ khai thác tự nhiên mà còn phát triển việc trồng cây dược liệu. Từ những tri thức dân gian về các cây dược liệu, người dân hợp tác từ Công ty cổ phần Dịch vụ khoa học công nghệ Nông nghiệp Thành An tiến hành trồng hàng chục ha cây cà gai leo và cây dây thìa canh. Sau khi thu hoạch được công ty thu mua và chế biến thành các loại sản phẩm như trà dược liệu, trà túi lọc và các loại thuốc giải độc gan từ cà gai leo. Nguồn thu từ việc trồng những loại cây dược liệu này có thể đem về cho người sản xuất trên dưới 100 triệu đồng/ha/năm. Ở huyện Quế Phong, nơi có nguồn dược liệu phong phú nhất của Nghệ An thì việc trồng cây dược liệu được coi là trọng điểm trong phát triển kinh tế của địa phương. Người dân dựa trên những tri thức tích lũy nhiều thế hệ đã lựa chọn và trồng nhiều loại cây dược liệu như cây chè hoa vàng, bon bo, đẳng sâm, quế… Nhiều loại dược liệu đã được chế tạo thành các sản phẩm để đưa ra thị trường, một số được bán thô làm nguyên liệu cho các công ty sản xuất thuốc.

Không chỉ ở miền núi mà nhiều vùng miền xuôi Nghệ An cũng quan tâm đến việc trồng và buôn bán các sản phẩm dược liệu như cây nghệ, cây đinh lăng hay các loại thuốc Nam khác. Trong dân gian, cây nghệ được sử dụng với nhiều công hiệu như làm đẹp da, nhanh lành da ở các vết thương và nhiều giá trị về thẩm mỹ. Gần đây, nhiều sản phẩm được chiết xuất từ củ nghệ được phát triển thì việc trồng cây nghệ cũng trở nên phổ biến và được nhiều vùng lựa chọn làm ngành sản xuất nông nghiệp hiệu quả. Tiêu biểu như nhóm cư dân ở xã Nghi Kiều (Nghi Lộc) hiện nay đang trồng hàng năm hơn 100 ha cây nghệ và thu nguồn lợi ước tính hơn 30 tỷ đồng mỗi năm. Ở nhiều địa phương, hình thành nhiều cơ sở nhỏ lẻ trong việc kinh doanh bột nghệ. Họ là những người đi thu mua củ nghệ của những gia đình trồng với diện tích không lớn, về tự chế biến và đem bán cho khách có nhu cầu. Tuy nhiên, cũng có những địa phương, nhiều người đã biết tập hợp nhau lại trong việc khai thác, trồng và buôn bán các loại dược liệu. Tiêu biểu như Hội Đông y huyện Yên Thành đã tập hợp 130 thành viên cùng tìm hiểu các tri thức về cây thuốc, đi tìm giống và trồng nhiều loại dược liệu. Hiện nay, mỗi năm, các thành viên trong Hội đã cung ứng ra thị trường khoảng 20 tấn dược liệu, thu về một số tiền lớn.

Nhìn chung, nhiều địa phương ở Nghệ An, người dân đã quan tâm việc sử dụng các tri thức dân gian về y học cổ truyền để khai thác và trồng các loại dược liệu để đưa ra thị trường. Tuy nhiên, mới chỉ có một số sản phẩm được chế biến thành thành phẩm cuối cùng, còn lại phần lớn chỉ mới được sơ chế và bán cho các công ty sản xuất dược phẩm. Việc đầu tư các công nghệ hiện đại vào để chế biến các dược liệu thành sản phẩm đưa ra thị trường là nhu cầu cấp thiết. Và thực tế một số công ty đã bắt đầu quan tâm đến vấn đề này, nhưng mức độ vẫn còn chậm. Trong tương lai, có thể, chế biến dược phẩm sẽ là một lĩnh vực thu hút nhiều sự quan tâm của các doanh nghiệp.

2.2. Thương mại hóa tri thức dân gian về thủ công nghiệp

Quá trình này phổ biến ở các dân tộc thiểu số miền núi Nghệ An. Các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Nghệ An đều có hệ thống tri thức dân gian về thủ công nghiệp khá phong phú, từ nghề dệt, may mặc, đan lát, sản xuất đồ mỹ nghệ… Trong khoảng hai thập niên gần đây, khi kinh tế thị trường ở miền núi phát triển nhanh hơn, thì nhiều tri thức đã trở thành hàng hóa và đưa vào thị trường. Ở nhiều địa phương, các tổ chức phát triển kinh tế như hợp tác xã, câu lạc bộ, tổ sản xuất được thành lập để tổ chức phát triển kinh tế thị trường dựa vào các tri thức dân gian về thủ công nghiệp. Tiêu biểu như tổ chức sản xuất, kinh doanh của người Thái ở miền Tây Nghệ An như hợp tác xã dệt thổ cẩm Hoa Tiến và hợp tác xã dệt thổ cẩm Minh Hồng (xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu), hợp tác xã thủ công mỹ nghệ và dịch vụ Bản Xiềng (xã Môn Sơn, huyện Con Cuông) hay các tổ sản xuất dệt thổ cẩm ở xã Lục Dạ (Con Cuông)… Những thời gian cao điểm, hợp tác xã dệt thổ cẩm Hoa Tiến tạo công ăn việc làm cho hơn 200 người trong bản và vùng xung quanh, sản xuất và kinh doanh hàng trăm sản phẩm về thổ cẩm với hàng ngàn mét vải dệt, thu về hàng trăm triệu đồng, góp phần nâng cao đời sống cho người dân. Ở Lục Dạ có 12 bản thì có 6 tổ sản xuất dệt thổ cẩm thu hút gần 200 gia đình làm nghề thủ công này tham gia vào sản xuất thổ cẩm để đưa ra thị trường. Tổ sản xuất mây tre đan ở Bản Diềm (xã Châu Khê, Con Cuông) cũng tập hợp bà con sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ dựa trên tri thức về nghề đan lát đồ mây tre đưa ra thị trường mà gần đây đã vươn ra thị trường nước ngoài như Pháp, Đức…

Nét chung của các tổ chức sản xuất này là học theo mô hình của nhiều địa phương khác thông qua các chương trình phát triển của một số tổ chức xã hội hỗ trợ. Dù có nhiều cố gắng để giới thiệu và đưa các sản phẩm hàng hóa từ tri thức thủ công nghiệp truyền thống của cộng đồng ra thị trường nhưng họ vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhìn nguồn thu hàng trăm triệu đồng của các hợp tác xã hay tổ sản xuất thu về thì thấy lớn nhưng khi phân chia ra cho những người tham gia thì cũng chỉ là một phần thu nhập nhỏ bé. Hiện tại, việc tiếp cận thị trường của các sản phẩm thủ công nghiệp gặp nhiều khó khăn do đầu ra không có. Những người tham gia cũng thiếu những kinh nghiệm tổ chức kinh doanh trong kinh tế thị trường. Tuy nhiên, những nỗ lực của những người đi đầu trong việc đưa tri thức thủ công nghiệp truyền thống ra thị trường cũng đã tạo ra những luồng gió mới cho quá trình phát triển của cộng đồng.

  1. Hệ quả của quá trình thương mại hóa tri thức dân gian

Không phủ nhận thương mại hóa tri thức dân gian đã mang lại cho các cộng đồng nhiều lợi ích kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất cho người dân, xóa đói, giảm nghèo và làm cho nền văn hóa năng động hơn, nhiều giá trị văn hóa được lan tỏa ra nhanh chóng. Nhưng thương mại hóa tri thức dân gian cũng có thể tạo ra nhiều hệ quả tiêu cực cho sự phát triển của các cộng đồng, tộc người.

Trước hết, đó là những xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia vào quá trình thương mại hóa tri thức dân gian. Nếu như các cách khai thác và buôn bán nhỏ lẻ từ chính những người dân bản địa như đã nói ở trên thì mọi chuyện chưa có nhiều vấn đề để bàn, nhưng khi các doanh nghiệp đầu tư vận dụng các tri thức dân gian cùng nguồn nguyên liệu để sản xuất các thực phẩm chức năng, các loại thuốc thì nhiều bất cập sẽ nẩy sinh. Trong đó có thể xẩy ra những xung đột giữa những người buôn bán các sản phẩm này với những cộng đồng là chủ sở hữu của các tri thức đã làm nền tảng để tạo ra sản phẩm đó. Nói vậy không phải là quan điểm chống lại thương mại hóa các tri thức dân gian, mà cần nhìn xa hơn, là sự tôn trọng các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng, là việc tổ chức, bảo hộ cho các nguồn tài sản chung trong quá trình phát triển. Cần phải có sự hài hòa trong việc khai thác các giá trị văn hóa cộng đồng để tránh những xung đột về mặt văn hóa trong quá trình phát triển.

Thứ hai là sự xung đột văn hóa trong quá trình thương mại hóa tri thức dân gian. Những người kinh doanh các sản phẩm văn hóa thường là những người ngoài cộng đồng chủ thể nên dễ đẩy cả người kinh doanh, người thụ hưởng và cộng đồng chủ thể đi đến xung đột. Trong một nghiên cứu về vấn đề này, Daniel Wiiger đã đưa ra cảnh báo về việc sử dụng công nghệ hiện đại trong quản lý thương mại hóa tài sản văn hóa, trong đó nhấn mạnh đến việc bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống bằng cách ngăn cản hoặc đưa ra những điều kiện cụ thể đối với việc sử dụng các sản phẩm văn hóa ra ngoài không gian tồn tại của nó là rất cần thiết. Nhà nghiên cứu này đưa ra một dẫn chứng về một phóng viên đã đến vùng Tây Nam Hoa Kỳ chụp những bức ảnh về một vũ điệu có tính chất nghi lễ của người Pueblo và công bố rộng rãi. Những người trong bộ lạc đã kiện phóng viên này vì như vậy là xâm phạm vào quyền riêng tư trong nghi lễ văn hóa của họ. Và kết quả là phóng viên phải dừng ngay việc sử dụng những tấm ảnh này. Câu chuyện này gần gũi với việc một người thợ chụp ảnh khoe với bạn bè rằng anh ta vừa đi lên miền núi và chụp được một số bức ảnh về cảnh tắm suối của người phụ nữ Thái. Anh ta cho rằng các chỉ số và góc nhìn của bức ảnh này đẹp hơn tất cả những bức ảnh tắm suối mà anh ta đã xem và đang ý định đi đăng ký bản quyền cũng như gửi một số báo chí hay dự thi ảnh. Nếu những bức ảnh này được cấp bản quyền và được công bố, thì những người Thái ở cộng đồng mà anh ta đến chắc hẳn sẽ khó chịu vì đây là sinh hoạt tế nhị của họ. Tương tự như vậy, một bài múa của người Thái ở miền núi có thể được một vũ đoàn ở thành phố biểu diễn với một trang phục sexy hơn để thu hút khách thì đối với những người chủ thể của nó sẽ khó mà chấp nhận được.

Thương mại hóa văn hóa, mà cụ thể là thương mại hóa các tri thức dân gian là xu hướng khó tránh khỏi. Nhưng để quá trình đó không ảnh hưởng tiêu cực quá nhiều đến các nền văn hóa thì cần phải tôn trọng các giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng, các dân tộc nhưng không đối lập, bài trừ sự phát triển, sự hiện đại hóa. Như GS J. Michael      Finger, nguyên trưởng nhóm nghiên cứu chính sách thương mại của Ngân hàng Thế giới lập luận: “Hiểu ý nghĩa về truyền thống và hiện đại như là hai đầu của một cán cân thì tốt hơn là việc phân biệt rạch ròi. Mỗi một cộng đồng thì thích hợp ở đâu đó dọc theo cán cân này, trong sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại”. Thương mại hóa, thị trường hóa hay toàn cầu hóa, hiện đại hóa là những quá trình, những xu hướng mà một cộng đồng, một quốc gia không dễ gì đi ngược lại hay trốn tránh. Tuy nhiên, nhiều nước cũng cho thấy được sự thành công nếu có chiến lược chủ động hòa nhập và phát triển để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Nếu làm được điều đó thì khi đó, chính văn hóa truyền thống chính là bệ đỡ, là nền tảng và nguồn lực quan trọng để phát triển.

 Tài liệu tham khảo

  1. Trần Văn Bính: Thương mại hóa và văn hóa, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10, 2013.
  2. Daniel Wiiger, Sự ngăn ngừa sử dụng trái phép di sản văn hóa phi vật thể thông qua luật sở hữu trí tuệ, in trong “Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển”. J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004.
  3. Coenraad J. Visser, Làm cho luật sở hữu trí tuệ phục vụ tri thức cổ truyền, in trong “Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển”. J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004.
  4. Trần Văn Hải, Khai thác thương mại đối với tri thức truyền thống: tiếp cận từ quyền sở hữu trí tuệ. Tạp chí Hoạt động khoa học, số 2, 2012.
  5. Kerry ten Kate và Sagrah A. Laird, Những thỏa thuận về đa dạng hóa sinh học và phân chia lợi nhuận với cộng đồng địa phương, in trong “Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển”. J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004.
  6. Hà Hữu Nga, Tri thức bản địa và phát triển. Bài tham luận tại Hội thảo khoa học “Nghiên cứu một số giá trị tri thức bản địa, đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy để góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi, ngày 30/12/2009.
  7. Philip Schuler, Sự sử dụng bất hợp pháp các nguồn tài nguyên sinh học và việc thương mại hóa các tri thức dược thảo học, in trong “Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển”. J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên. Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004.
  8. J. Michael Finger, Giới thiệu và tổng quan, trong “Kiến thức của người nghèo: các hoạt động thúc đẩy việc thu lợi từ tài sản trí tuệ ở các nước đang phát triển”. J Michael Finger và Philip Schuler đồng chủ biên. Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004.
 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
KHXHNV & Đời sống khác:
Năm 2020, con người sẽ "sống hai cuộc đời" (10/7/2018)
Xung đột gia đình trong các vợ chồng trẻ và vai trò của nam giới trong vấn đề bạo lực gia đình (9/7/2018)
Con số bốn trong ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (Qua dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao người Việt) (9/7/2018)
Thi ca viết về thầy cô - những người đưa đò thầm lặng (2/7/2018)
Làn điệu Xuối (2/7/2018)
Thương mại hóa trí thức dân gian các dân tộc thiểu số (29/6/2018)
Gia đình là cái nôi của văn hóa đọc (26/6/2018)
Cộng đồng các dân tộc thiểu số Nghệ An phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới (18/6/2018)
Mẹ chồng - Con dâu trong cấu trúc gia đình Việt (18/6/2018)
Cách mạng khoa học - công nghệ và tác động của nó đến con người và xã hội Việt Nam (30/5/2018)
Thế hệ trí thức thời đại Minh Mệnh (25/5/2018)
Bác Hồ nói về sự nghiệp khoa học - kỹ thuật (24/5/2018)
Sức sống của Truyện Kiều trong tâm thức dân gian (21/5/2018)
Chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp người anh ruột Nguyễn Sinh Khiêm ở Hà Nội (21/5/2018)
Kho báu văn hóa từ các ngôi cổ tháp (17/5/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách
Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
Giới thiệu sách Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 470 | Tất cả: 1,294,331
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn