NGHIÊN CỨU KHXH&NV > ĐIỀU TRA XÃ HỘI
Hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Nghệ An
Tin đăng ngày: 29/6/2018 - Xem: 464
 

Nguyễn Thị Hiền

Các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn (NNNT) có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm định hướng, khuyến khích, hỗ trợ tạo điều kiện cho người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu, cây trồng, vật nuôi góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, thực hiện cơ cấu lại ngành NN&PTNT. Năm 2017 - 2018, Trung tâm KHXH&NV Nghệ An tổ chức điều tra xã hội học:“Khảo sát, đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển NNNT trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 - 2016”.

Nhóm thực hiện tiếp cận 2 nhóm đối tượng chính là nhóm thực hiện chính sách và nhóm thụ hưởng chính sách trên địa bàn 12/21 huyện, thành thị. Với phương pháp triển khai gồm: phân tích tài liệu; phỏng vấn theo bảng hỏi (quy mô mẫu  là 1.090)  và phỏng vấn sâu cán bộ cơ quan quản lý, cơ quan triển khai chính sách ở cấp tỉnh, huyện, xã và phương pháp chuyên gia. Thông tin thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê xã hội học SPSS 20.0.

Nhóm nghiên cứu đã rà soát, tập hợp 37 văn bản quan trọng có liên quan tới chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn (NNNT) trên địa bàn tỉnh. Hệ thống chính sách này được phân thành 4 nhóm: (1) hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản); (2) hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ; (3) hỗ trợ vay vốn, tín dụng; (4) hỗ trợ tổ chức sản xuất và thị trường.

  1. Kết quả thực thi và hiệu quả của chính sách

Kết quả khảo sát có 76.6% số doanh nghiệp, 87.5% số HTXNN và 52.3% số nông dân có biết thông tin về các chính sách; đối tượng tiếp cận hạn chế nhất là nông dân. Các đối tượng được thụ hưởng chính sách với mức độ khác nhau theo từng nhóm chính sách.

1.1. Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp (nông - lâm - thủy sản) đã triển khai với nội dung hỗ trợ chủ yếu là: giống; phân bón, vật tư nông nghiệp; xây dựng phát triển vùng nguyên liệu; chế biến, bảo quản sau thu họach… Có 25.6% số doanh nghiệp, 80.0% số HTXNN (chính sách hỗ trợ trực tiếp cho HTX và hỗ trợ gián tiếp - HTX đứng ra làm mắt xích kết nối với xã viên) và 89.0% số hộ được nhận hỗ trợ. Nông dân là đối tượng được hưởng lợi trực tiếp nhiều nhất từ chính sách này. Từ nguồn hỗ trợ của nhà nước, đã tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển kinh tế, mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, nông nghiệp đã chuyển theo hướng sản xuất hàng hóa, chú trọng cây con có sản phẩm chất lượng (gắn sản xuất đại trà với sản xuất cây con mũi nhọn).

1.2. Chính sách hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ (KHCN) đã đi vào thực tiễn với các nội dung hỗ trợ như: tập huấn, chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ KHCN; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng; đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu hàng hóa; tham gia hội chợ, xúc tiến, quảng bá thương hiệu; thực hiện dự án đầu tư công nghệ mới, đổi mới công nghệ; xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi xanh sạch; tham quan, học tập các mô hình kinh tế giỏi... Có 48.8% số doanh nghiệp, 75.0% HTXNN và 77.9% số hộ nông dân được hưởng lợi từ chính sách. Trong sản xuất các tổ chức, cá nhân đã áp dụng các tiêu chuẩn theo quy trình đạt chuẩn (HACCP, VietGap, IS0 9000...). Chính sách này đã đưa khoa học kỹ thuật đến cho người dân, từ đó nâng cao được chất lượng sản phẩm; khuyến khích các cá nhân, tổ chức đầu tư đổi mới công nghệ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ KH&CN nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp; đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông - lâm - thủy sản có hiệu quả dựa trên ứng dụng tốt tiến bộ KH&CN.

1.3. Chính sách hỗ trợ vay vốn, tín dụng. Trên cơ sở cơ chế chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh đã triển khai các gói cho vay đầu tư phát triển NNNT. Có 24.1% số doanh nghiệp, 34.5% số HTXNN và 44.3% số hộ có thực hiện vay vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức (ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân) được áp dụng các gói vay ưu đãi. Đó là các trường hợp: doanh nghiệp vay đầu tư máy móc thiết bị sản xuất, thực hiện dự án trồng rừng nguyên liệu...; HTX vay mua máy móc sản xuất nông nghiệp, xây dựng nhà xưởng chế biến chè, cải tạo nhà kho...; nông dân vay mua trâu bò hàng hóa, mua máy móc sản xuất nông nghiệp, trồng rừng dự án WB3, nuôi lợn sinh sản, nuôi bò vỗ béo, đóng tàu mới... Nhìn chung, các ngân hàng đã triển khai các gói vay ưu đãi theo đúng chủ trương của Nhà nước, đồng tiền sử dụng đúng mục đích. Thông qua chính sách hỗ trợ vay vốn tín dụng đã phần nào tháo gỡ được khó khăn cho người sản xuất, có thêm nguồn vốn phục vụ sản xuất, từ đó gây dựng được tiềm lực tài chính cho cá nhân, tổ chức.

Chính sách tổ chức sản xuất và thị trường: Với vai trò là nòng cốt trong liên kết sản xuất và tiêu thụ, có 44.7% số doanh nghiệp được khảo sát có hợp đồng với nông dân. Trong đó, dạng hợp đồng cung ứng đầu vào và tiêu thụ nông sản được áp dụng, nổi bật với sản phẩm là cây mía, cây chè và cây lúa. Các doanh nghiệp ký hợp đồng với nông dân qua 2 hình thức: ký trực tiếp với nông dân và qua trung gian (qua HTXNN, qua xóm). Bên cạnh đó, có nhiều mô hình HTX kiểu mới đã trở thành mắt xích quan trọng liên kết với doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi giá trị sản xuất. Có 47.5% số HTXNN có hợp đồng với các doanh nghiệp và 25.0% số HTXNN có hợp đồng với nông dân dưới 3 dạng hợp đồng chính (cung ứng đầu vào và tiêu thụ nông sản, cung ứng đầu vào và không tiêu thụ và hợp đồng tiêu thụ nông sản). Các tác nhân tham gia liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn được hưởng một số ưu đãi của nhà nước về: đất đai, vay vốn, hỗ trợ kỹ thuật, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng... Có 21.3% số doanh nghiệp, 27.5% số HTXNN và 18.8% số hộ nông dân tham gia liên kết, xây dựng cánh đồng lớn có được sự hỗ trợ từ nhà nước. Với nông dân, ngoài nhận được sự hỗ trợ từ nhà nước còn được các doanh nghiệp liên kết hỗ trợ trực tiếp về: kỹ thuật sản xuất, vay phân bón trả chậm, bao tiêu sản phẩm... Thời gian qua, các mô hình liên kết đã triển khai cho hiệu quả rõ rệt đối với nông dân, các hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia. Thông qua hợp đồng sản xuất, người nông dân được tiêu thụ sản phẩm, giá cả ổn định, ít rủi ro, tạo động lực cho các hộ nông dân tổ chức sản xuất theo mô hình trang trại; doanh nghiệp chủ động về nguồn cung sản phẩm nông nghiệp, chất lượng được quản lý, giá cả ổn định…

  1. Tồn tại, hạn chế

- Nguồn lực đầu tư để thực hiện các chính sách còn dàn trải, chưa tập trung, định mức thực hiện chưa đủ mạnh để đạt các mục tiêu đề ra. Tính trên tổng thì kinh phí Nhà nước đầu tư là rất lớn song hiệu quả chưa cao, chưa thực sự tạo được động lực để kích thích các cá nhân, tổ chức mạnh dạn đầu tư vào sản xuất. Cụ thể như: Với kinh phí hỗ trợ mua vắc xin tiêm phòng cho gia súc các huyện miền núi khoảng 1-2 tỷ đồng/ năm mới chỉ tổ chức tiêm các loại vắc xin trọng điểm và chỉ đạt tỷ lệ 40-50%, chưa đạt tỷ lệ bảo hộ 80% tổng đàn. Hay kinh phí hỗ trợ cho nông dân mua máy nông nghiệp hàng năm bố trí không đủ (kinh phí thực hiện khoảng 20 tỷ đồng/ năm - thấp so với nhu cầu của nông dân). Tương tự, kinh phí hỗ trợ sau đầu tư đóng mới tàu cá khai thác xa bờ (tàu công suất lớn) cho ngư dân phân bổ khoảng 15-20 tỷ đồng/năm - thực tế con số này gấp nhiều lần. Tính đến tháng 10/2017 vẫn còn thiếu khoảng 29 tỷ đồng hỗ trợ máy nông nghiệp và 37 tỷ đồng hỗ trợ đóng tàu...

- Một số chính sách tuy đã ban hành nhưng khó/ không đi vào cuộc sống (do chưa phù hợp với thực tiễn, nhiều tiêu chí quy định quá cao cũng như thiếu nguồn lực để thực thi), cụ thể như: Nghị định 210/2013/NĐ-CP, số lượng doanh nghiệp nhận được hỗ trợ từ chính sách còn quá ít (toàn tỉnh mới chỉ có 2 doanh nghiệp nhận được hỗ trợ); Quyết định 2261/QĐ-TTg hỗ trợ phát triển hợp tác xã không có nguồn lực thực hiện; thiếu kinh phí cho xây dựng cánh đồng lớn (Nghị quyết số 52/2016/ NQ-HĐND tỉnh); Quyết định 23/2015/QĐ-UBND hỗ trợ đầu tư dự án công nghệ cao vẫn chưa có một doanh nghiệp nào nhận được hỗ trợ...

- Việc tiếp cận thụ hưởng một số chính sách còn khó khăn do hồ sơ thủ tục, quy trình, cơ chế còn rườm rà, phức tạp, chưa linh động trong xử lý tình huống. Cụ thể như: Các HTXNN gặp nhiều khó khăn trong thực hiện hồ sơ thủ tục nhận hỗ trợ thành lập; trong việc tiếp cận vốn vay ưu đãi từ ngân hàng bởi một số quy định của cơ chế tín dụng (tài sản đảm bảo thế chấp; chứng minh năng lực SXKD...). Một số chính sách mức hỗ trợ thấp nhưng hồ sơ thủ tục còn rườm rà: thủ tục hỗ trợ thiên tai (diện tích trồng lúa, hoa màu của rất nhiều hộ dân chỉ có 3- 5 sào, mức hỗ trợ thiệt hại ít trong khi các đơn từ, xác nhận, kiểm kê, biên bản... quá nhiều); thủ tục phối tinh cho lợn nái (một liều tinh hỗ trợ 2.000 đồng mà phải có 2 loại đơn từ: đơn đề nghị của dân, đơn xác nhận của xã). Hay thủ tục đầu tư xây dựng lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung, cá nhân, tổ chức phải qua hàng loạt đơn vị từ cấp xã tới tỉnh khiến nhà đầu tư không mặn mà.

- Thiếu chính sách đủ mạnh, có tính đột phá trong sản xuất nông nghiệp. Chính sách hiện tại đa số tập trung vào khâu đầu vào nhưng chưa tập trung vào đầu ra, tiêu thụ sản phẩm, chất lượng và thương hiệu. Vấn đề đầu ra cho nông sản sau thu hoạch của hộ nông dân, HTXNN vẫn là bài toán khó. Chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ có nhưng khó thực hiện do cơ chế quản lý thiếu chặt chẽ, quyền lợi của các bên tham gia chưa hài hòa... Ngay cả chính sách liên kết sản xuất và tiêu thụ vẫn hỗ trợ đầu vào (giống, vật tư, phân bón, kỹ thuật sản xuất). Tỷ lệ doanh nghiệp, HTXNN và nông dân nhận được hỗ trợ từ chính sách này là thấp nhất (chỉ có 21.3% số DN, 27.5% số HTXNN và 18.8% nông dân được hỗ trợ; so sánh với chính sách hỗ trợ phát triển KHCN tỷ lệ này là: 48.8% - 75.0% - 77.9% và chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp là: 25.6% - 80.0% - 89.0%...).

- Cách tiếp cận xây dựng chính sách vẫn chưa theo kịp xu hướng phát triển: lâu nay vẫn nặng hỗ trợ trực tiếp cho nông dân (xem nông dân là đối tượng chính), trong khi đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã chưa được quan tâm đúng mức. Việc hỗ trợ trực tiếp cho nông dân cũng vô tình làm cho thời gian dành cho việc giải quyết thủ tục kéo dài...

- Tính kết nối giữa các chính sách chưa cao (giữa chính sách chính thức với các chính sách khác). Cụ thể: Không chỉ trong chính sách phát triển sản xuất, việc xây dựng mô hình cũng đều có trong chính sách hỗ trợ của các chương trình mục tiêu, chính sách khuyến nông, khuyến công... nhưng do thiếu tính kết nối nên việc hỗ trợ xây dựng mô hình chưa cao (có khi chính sách khuyến khích một đường nhưng xây dựng mô hình một nẻo)...

- Công tác tuyên truyền còn hạn chế, có khi văn bản, thông tin chính sách đến chậm hoặc không đến được với các cá nhân, tổ chức (đặc biệt là đối tượng nông dân ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa) nên ảnh hưởng đến quyền lợi. Chỉ có 52.3 % số hộ nông dân có nghe/ biết thông tin về các chính sách. Có 52.6% số doanh nghiệp và 12.5% số HTXNN cho biết họ không biết thông tin cũng như không được hướng dẫn để tiếp cận các chính sách nên không được hưởng hỗ trợ.

  1. Nguyên nhân

- Công tác hoạch định chính sách còn nhiều điểm hạn chế (chưa sát thực tiễn, chưa phù hợp xu hướng phát triển). Việc phân định chính sách phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm rủi ro chưa rạch ròi.

- Ngân sách để xây dựng chính sách thấp dẫn đến chất lượng chính sách ban hành chưa cao (thiếu nguồn lực để thực thi chính sách).

- Sự rườm rà, phức tạp trong quy định hồ sơ thủ tục, quy trình thực hiện;

- Công tác tuyên truyền, phổ biến về các chủ trương chính sách chưa sâu rộng.

- Thiếu sự phản biện xã hội trong xây dựng, thực thi chính sách.

  1. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp trên đại bàn trong thời gian tới

4.1. Nhóm các giải pháp chung:

* Nâng cao hiệu quả công tác hoạch định chính sách:

- Thay đổi tư duy trong hoạch định chính sách cho phù hợp với xu thế phát triển: quan tâm hỗ trợ, đầu tư trực tiếp cho đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã nhiều hơn để kích thích sự phát triển.

- Phân định rạch ròi mục tiêu khi xây dựng chính sách: xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm rủi ro, phát triển sản xuất. Đồng thời, chú trọng xây dựng chính sách hướng tầm vĩ mô: chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác; chính sách phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị...

- Rà soát để giảm bớt, cắt bỏ các chính sách không phù hợp hoặc không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn (như: Nghị định 210/2013/NĐ-CP, Quyết định 23/2015/QĐ-UBND (tiêu chí quá cao, không có kinh phí); hay một số nội dung mức hỗ trợ quá nhỏ như: hỗ trợ phòng chống dịch bệnh lùn sọc đen hại lúa, hỗ trợ phối tinh cho lợn nái...).

* Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền:

- Kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể quy trình triển khai thực hiện chính sách.

- Thông tin kịp thời, nhanh chóng đến từng loại đối tượng thụ hưởng để chuyển tải các nội dung, quy định của các chính sách để các tổ chức, cá nhân hiểu và thực hiện có hiệu quả.

- Quan tâm hơn nữa việc lấy ý kiến phản biện của các tổ chức, đoàn thể, của nhân dân về các chính sách hỗ trợ phát triển NNNT.

* Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính:

- Đơn giản hóa các thủ tục để tránh rườm rà, gây khó khăn trong quá trình hoàn thiện hồ sơ thụ hưởng.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ thực thi với tinh thần tinh thông, chuyên nghiệp, trách nhiệm hơn.

* Bố trí đảm bảo nguồn lực để thực hiện chính sách:

- Trung ương đảm bảo kinh phí để thực hiện các chính sách đã ban hành, tạo điều kiện cho tỉnh triển khai thực hiện tốt.

- Ngân sách địa phương (tỉnh, huyện, xã) đảm bảo kinh phí thực hiện các nội dung chính sách hỗ trợ của địa phương ban hành, đồng thời đảm bảo kinh phí đối ứng thực hiện các chính sách của Trung ương.

- Tăng cường kiểm tra việc thực hiện chính sách.

4.2.Giải pháp đối với các nhóm chính sách phát triển NNNT

* Về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp:

- Hỗ trợ, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm phát triển phù hợp với địa phương và đáp ứng nhu cầu cần thiết để tạo được bước đột phá trong nông nghiệp. Tập trung hỗ trợ đầu tư phát triển cây con chủ lực, có giá trị hàng hóa cao; đầu tư sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đầu tư các mô hình trọng điểm, đồng bộ cho liên kết sản xuất và tiêu thụ...

- Bố trí kinh phí hỗ trợ kịp thời để người dân chủ động hơn trong sản xuất (giải quyết kinh phí hỗ trợ về mua máy nông nghiệp và đóng tàu cá cho các hộ đã đầu tư; kinh phí hỗ trợ thiệt hại thiên tai...).

- Tách bạch mục tiêu các chính sách: hỗ trợ phát triển, xóa đói giảm nghèo và bảo hiểm rủi ro. Đồng thời, cần gắn nguồn lực thực hiện chính sách này với nguồn lực kinh phí xây dựng mô hình kinh tế của chương trình mục tiêu, khuyến nông, khuyến công...

* Về chính sách hỗ trợ phát triển KHCN

- Tăng cường hỗ trợ đầu tư về công nghiệp chế biến và bảo quản nông sản; hỗ trợ đầu tư chuyển giao khoa học kỹ thuật (cùng đầu tư với doanh nghiệp).

- Tăng cường đầu tư, hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu, thương hiệu nông sản và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đồng thời, tăng cường quản lý chất lượng nông sản (nhất là vệ sinh ATTP) và quản lý nguồn gốc xuất xứ nông sản.

* Về chính sách hỗ trợ vay vốn, tín dụng:

- Tăng mức cho vay, thời hạn cho vay, giảm lãi suất cho vay... phù hợp với chu kỳ sản xuất của từng loại sản phẩm nông nghiệp để tạo ưu đãi thực sự cho khu vực NNNT.

- Xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển HTX để thực hiện cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các HTX chưa đủ điều kiện vay vốn là chính.

- Có chính sách khuyến khích, thúc đẩy các ngân hàng thương mại cùng tham gia cho vay các hoạt động sản xuất kinh doanh trong NNNT.

* Về chính sách tổ chức sản xuất và thị trường

-  Tập trung đầu tư, hỗ trợ phát triển các hình thức liên kết sản xuất: mời gọi các doanh nghiệp mới vào ký kết hợp đồng liên kết với nông dân; khuyến khích nông dân, HTX ký hợp đồng sản xuất và tiêu thụ nông sản với doanh nghiệp; có cơ chế chính sách ưu đãi riêng đối với các doanh nghiệp làm tốt liên kết “4 nhà”; thực hiện cơ chế chính sách hỗ trợ nông dân gián tiếp qua doanh nghiệp thu mua, chế biến...

- Tăng cường sự định hướng, chỉ đạo, quản lý, điều tiết của Nhà nước với thị trường sản phẩm nông nghiệp. Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo trong liên kết “4 nhà”, là trọng tài khách quan và xử lý kịp thời các vướng mắc do quan hệ lợi ích giữa doanh nghiệp, các tổ chức thu mua và nông dân.

- Quan tâm đến quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến nông sản để tạo vùng nguyên liệu, gắn kết công nghiệp chế biến với sản xuất để thúc đẩy nông nghiệp hàng hóa phát triển (phân vùng nguyên liệu để sản xuất bền vững).

Nghiên cứu KHXH&NV khác:
Tìm hiểu các nguyên lý bài trí thờ tự - tại di tích trên địa bàn tỉnh Nghệ An (4/12/2018)
Góp phần cải chính về năm mất của Nguyễn Công Trứ (4/12/2018)
Hoàn cảnh ra đời câu thơ của Trần Nhân Tông (14/11/2018)
Đề xuất giải pháp sắp xếp, tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An (9/11/2018)
Hội thảo khoa học: Truông Bồn - Giá trị lịch sử, bảo tồn và phát huy (2/11/2018)
Hội thảo khoa học "Thân thế và sự nghiệp Tiến sỹ Trần Đình Phong" (1/11/2018)
Về chuyến thăm Nghệ An năm 1932 của vua Bảo Đại (10/10/2018)
Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Hòa Bình, UBND huyện Cao Phong làm việc và chia sẻ kinh nghiệm tại Nghệ An (10/10/2018)
Hội thảo khoa học Thoát nước đô thị Vinh - Thực trạng và giải pháp (3/10/2018)
Bàn giải pháp và chương trình phối hợp hoạt động KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp (27/9/2018)
Nâng cao hiệu quả hoạt động Khoa học và công nghệ cấp huyện (25/9/2018)
Đi tìm một bản sử thi "Khun Chương" đầy đủ (10/9/2018)
Vấn đề Hồ Xuân Hương - Thử tiếp cận những bài thơ có gốc nguồn văn bản (31/8/2018)
Khoa học & công nghệ trong nông nghiệp ở Nghệ An: Cần có những tác động mới (31/8/2018)
Đội ngũ cán bộ không chuyên trách ở Nghệ An Thực trạng và giải pháp (31/8/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,408 | Tất cả: 1,552,984
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp