DIỄN ĐÀN > TỌA ĐÀM VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRAO ĐỔI
Về việc “đánh giá lại” lịch sử
Tin đăng ngày: 26/6/2018 - Xem: 33
 

Nguyễn Văn Toàn

 PGS. TS Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng: “Sau khi lên ngôi, thành lập vương triều Nguyễn năm 1802, nhà Nguyễn đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước - sự nghiệp mà nhà Tây Sơn và người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã mở ra nhưng chưa hoàn thiện.

Vua Gia Long lên ngôi đã góp phần hoàn thiện vào sự nghiệp thống nhất đất nước”.

Và PGS. TS Trần Đức Cường cũng cho rằng: “Chính quyền Việt Nam cộng hoà là một thực thể ở miền Nam Việt Nam. Nó tồn tại trong gần 21 năm. Năm 1954 còn có một thể chế nữa gọi là Quốc gia VN. Sau đó đến năm 1955 thì Ngô Đình Diệm mới phế Bảo Đại để làm quốc trưởng, sau đó trưng cầu dân ý, bầu Tổng thống.

Việt Nam Cộng hoà là nối tiếp của Quốc gia VN. Nhưng vấn đề phải nghiên cứu cho rõ nguyên tắc vận hành của chính quyền này là gì? Đó là một thực thể trên lãnh thổ quốc gia VN.

Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng hoà, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn.

Lịch sử phải khách quan, phải viết thế nào để mọi người chấp nhận”.

(Xem: Vũ Viết Tuân, “Nhìn nhận công lao nhà Mạc và chúa Nguyễn”, Báo Tuổi Trẻ Online, đăng ngày 18-08-2017 17:10 GMT+7).

Tác giả xin có đôi lời về các quan điểm này.

Về quan điểm cho rằng Nguyễn Ánh thống nhất đất nước

Người viết tình cờ đọc được bài viết về Nguyễn Ánh của PGS.TS Trần Cao Sơn và nhận thấy có một số quan điểm của PGS.TS Trần Cao Sơn là rất xác đáng về Nguyễn Ánh.

PGS.TS Trần Cao Sơn sinh năm 1952 tại Nga Sơn, Thanh Hoá. Ông từng là Tiến sĩ tại Viện Phương Đông học, thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và là nhà nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử quan hệ quốc tế. Ông hiện công tác tại Viện Xã hội học, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Trong bài “Nguyễn Ánh - một ẩn số của lịch sử Gia Long và triều Nguyễn - một thực thể vương quyền Đại Việt” (Tạp chí Sông Hương, cập nhật lúc 16h07 ngày 2-6-2009), PGS.TS. Trần Cao Sơn đã nhận định rất đúng rằng: “Cái khác biệt cơ bản và trọng tội của Nguyễn Ánh... Nguyễn Huệ muốn đập tan các thế lực cát cứ để đưa giang sơn về một mối. Nguyễn Ánh lo bảo vệ cho chế độ chúa Nguyễn Đàng Trong của mình”.

PGS.TS. Trần Cao Sơn cũng nhận xét rất đúng rằng: “Nguyễn Huệ trồng cây. Gia Long hái quả” trong khi hiện nay có ý kiến Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh ai là người có công thống nhất đất nước. Và PGS.TS. Trần Cao Sơn cũng nuối tiếc: “Đáng tiếc cho phong trào Tây Sơn và cũng là cho cả dân tộc, Nguyễn Huệ đã ra đi đột ngột...”.

Thực tế là các chúa Nguyễn, các đời trước của Nguyễn Ánh, trong vòng 100 năm đều không thể thắng được các chúa Trịnh. Kể cả trong vòng 45 năm đầu tiên (từ năm 1627 đến năm 1672), hai dòng họ Trịnh-Nguyễn đánh nhau bảy lần với những trận chiến ác liệt, có khi kéo dài năm này qua năm khác nhưng bất phân thắng bại. Cuộc chiến tranh đã làm hao tổn sức người, sức của dân, triệt phá đồng ruộng, xóm làng. Nhưng Tây Sơn chỉ trong vòng từ năm 1771, lúc bắt đầu khởi nghĩa đến năm 1789, lúc đánh tan quân xâm lược Mãn Thanh đã chấm dứt được tình trạng Đàng Trong, Đàng Ngoài, lần lượt diệt tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn, chúa Trịnh; đánh đuổi tên vua bán nước Lê Chiêu Thống, đánh tan quân xâm lược Xiêm La, Mãn Thanh. Làm được điều này, Tây Sơn khiến cho người Xiêm “sợ quân Tây Sơn như sợ cọp” còn Càn Long của nhà Mãn Thanh (Trung Quốc) thì buộc phải giao hảo với Đại Việt, không dám cất quân trả thù.

Sau khi đánh bại quân Thanh vào năm 1789, Quang Trung – Nguyễn Huệ trở thành nhà lãnh đạo tối cao của triều Tây Sơn và là vị Hoàng đế duy nhất cai trị tại Việt Nam vì Nguyễn Nhạc đã bỏ đế hiệu, Lê Chiêu Thống đã chạy sang Trung Quốc, còn Nguyễn Ánh khi đó địa bàn còn nhỏ hẹp và chưa xưng đế. Vua Quang Trung còn có được uy tín lớn sau chiến công chống quân Thanh, được nhà Thanh công nhận là vị vua chính thống của Việt Nam (thay thế địa vị của nhà Hậu Lê), lại dẹp bỏ được mâu thuẫn trong nội bộ nhà Tây Sơn và nắm quyền lãnh đạo thống nhất (vua anh Nguyễn Nhạc đã bỏ đế hiệu, tự giáng xuống làm vương để tỏ ý quy phục sự lãnh đạo của Quang Trung).

Upload

Tượng đài Anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ ở Huế

Năm 1792, Nhà Tây Sơn dự định phát động chiến dịch rất lớn, huy động hơn 30 vạn quân thuỷ bộ, chia làm ba đường: Nguyễn Nhạc theo đường bộ từ Phú Yên vào đánh Gia Định. Quân bộ của vua Quang Trung từ Phú Xuân đi thẳng qua lãnh thổ Vạn Tượng tới Nam Vang (Chân Lạp), từ đó cùng quân Chân Lạp kéo về Gia Định, bao bọc đường chạy của Nguyễn Ánh không cho sang Xiêm. Quân thuỷ của vua Quang Trung sẽ tiến vào đón lõng tận Hà Tiên đổ bộ lên đất liền để ngăn Nguyễn Ánh chạy ra biển. Sự chỉ đạo tối cao chiến dịch trên của Nguyễn Huệ với tư cách là hoàng đế nhà Tây Sơn chứng đó lúc đó Nguyễn Huệ - vua Quang Trung đã thống nhất được đất nước chứ không phải là Nguyễn Ánh.

Nhưng cái chết đột ngột của vua Quang Trung vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) khi ông đang trên đường chuẩn bị dẫn đại quân đánh Nguyễn Ánh khiến cho kế hoạch trên bị đình lại. Nếu còn vua Quang Trung thì không có chuyện Nguyễn Ánh có thể diệt Nhà Tây Sơn và lập ra nhà Nguyễn vào năm 1802.

Bởi vậy, quan điểm cho rằng: Nguyễn Ánh thống nhất đất nước là không đúng. Mà Nguyễn Ánh, đại diện cho giai cấp phong kiến, đã tước đoạt đi thành quả vĩ đại của phong trào Tây Sơn cũng như các cải cách tiến bộ của vua Quang Trung.

Do đó, khi giành được vương quyền, cai trị đất nước, nhà Nguyễn gặp phải sự chống đối của các lực lượng xã hội. Theo sử sách, thời Gia Long có 90 cuộc khởi nghĩa, thời Minh Mạng số lượng cuộc khởi nghĩa 250 vụ lớn nhỏ, thời Thiệu Trị có 50 cuộc khởi nghĩa. Đặc biệt, 36 năm trị vì của Tự Đức là thời kỳ đất nước trải qua nhiều biến động lớn. Trong nước, dân đói kém, mất mùa, các cuộc khởi nghĩa nổi lên khắp nơi. Riêng ở Bắc Kỳ có tới 40 cuộc nổi dậy của nông dân. Quân Chầy Vôi, phản đối việc xây lăng Tự Đức tốn kém gấp 10 lần lăng Gia Long đã nổi loạn ngay tại kinh thành. Ngoài ra, còn có cả giặc Khách từ Trung Quốc tràn qua cướp phá và nguy cơ mất nước về tay thực dân Pháp.

Thử hỏi: Nếu Nguyễn Ánh có công lao thống nhất đất nước, chấm dứt hàng trăm năm cục diện Nam Triều - Bắc Triều, Đàng Trong – Đàng Ngoài và các đời vua nhà Nguyễn đem lại cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân thì tại sao là có số lượng cuộc khởi nghĩa nhiều như vậy?

Trong khi đó, sau khi lên ngôi, vua Quang Trung đã ban “chiếu khuyến nông”. Năm 1789, vua Quang Trung bãi bỏ thuế điền cho nhân dân từ sông Gianh ra Bắc, động viên các tầng lớp nhân dân lao động phấn khởi sản xuất. Do đó, chỉ trong vòng 3 năm sau, nông nghiệp được phục hồi. Năm 1791, sử sách chép: “mùa màng trở lại phong đăng, năm phần mười trong nước khôi phục được cảnh thái bình”.

Để thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá thuận lợi, vua Quang Trung cho đúc tiền đồng mới (Quang Trung thông bảo và Quang Trung đại bảo). Đối với nước ngoài, Quang Trung chủ trương mỏ rộng trao đổi buôn bán, đấu tranh buộc nhà Thanh phải mở cửa biên giới để buôn bán với nước ta. Đối với thuyền buôn của các nước tư bản phương Tây, vua Quang Trung tỏ ra rộng rãi, mong muốn họ tăng cường quan hệ ngoại thương với nước ta, nhờ vậy, tình hình thương nghiệp (nội thương và ngoại thương) nước ta thời vua Quang Trung được phục hưng và phát triển. Mô tả Thăng Long bấy giờ, nhà nho Nguyễn Huy Lượng sống dưới thời Tây Sơn viết: “Lò Thạch khối khói tuôn nghi ngút, thoi oanh nọ ghẹo hai phường dệt gấm, lửa đom đóm nhen năm xã gây lò”, và “rập rình cuối bãi đuôi nheo, thuyền thương khách hãy nhen buồm bươm bướm” (Phú Tụng Tây Hồ). Nền ngoại thương nước ta thời Quang Trung khác hẳn với ngoại thương thời Vua Lê chúa Trịnh, chúa Nguyễn trước đó. Nó xuất phát từ yêu cầu nội tại của nền kinh tế và đời sống của nhân dân, từ yêu cầu đẩy mạnh nền kinh tế hàng hoá. Tư tưởng “thông thương” tiến bộ của vua Quang Trung đã thể hiện nhãn quan kinh tế rộng mở phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và thời đại, đó là mở cửa ải, thông thuơng buôn bán, khiến cho các hàng hoá không ngừng chuyển động để làm lợi cho dân chúng.

Sau khi đánh bại quân Thanh xâm lược (1789), Vương triều Quang Trung đã ra sức xây dựng một chính quyền phong kiến mới tiến bộ với ý thức quản lý đất nước trên một phạm vi rộng lớn dưới một chính quyền trung ương tập trung mạnh. Xuất phát từ nhận thức của vua Quang Trung “Trẫm là kẻ áo vải đất Tây Sơn, không có một tấc đất, tự nghĩ mình tài đức không theo kịp cổ nhân mà đất đai rộng lớn như thế, nghĩ đến việc cai quản, lo sợ như cầm dâycương mục mà dong sáu ngựa”, nên trong công cuộc xây dựng chính quyền mới, vua Quang Trung rất chú trọng “Cầu hiền tài”. Đối với những nho sĩ, trí thức, kể cả quan lại trong chính quyền cũ có tài năng, trí tuệ, có nhiệt tình xây dựng đất nước, vua Quang Trung đều cố gắng thuyết phục và sử dụng họ vào bộ máy nhà nước mới, đặt họ ở những chức vụ cao tương xứng với tài năng của họ. Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp... là những học giả tiêu biểu trong số nho sĩ này. Để đáp ứng nhu cầu xây dựng chính quyền mới và đào tạo quan lại mới, bên cạnh phương thức “tiến cử”, “cầu hiền tài” vua Quang Trung đã ban hành chính sách “khuyến học”, mở rộng chế độ học tập, thi cử. Trường học được mở rộng đến các làng xã, cho phép các địa phương sử dụng một số đền chùa không cần thiết làm trường học. Về nội dung, bỏ lối học từ chương khuôn sáo, cải tiến dần theo hướng thiết thực, bắt các nho sinh, sinh đồ ở các triều đại trước phải thi lại. Người nào xếp loại ưu thì mới được công nhận cho đỗ, hạng liệt phải về học lại, còn hạng sinh đồ 8 quan do bỏ tiền ra mua trước đó (thời Lê - Trịnh) đều bị đuổi về chịu lao dịch như dân chúng.

Một triều đại tiến bộ như Quang Trung do đó rất hợp lòng nhân dân và được nhân dân tưởng nhớ!

Về cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa” và ngụy quân, ngụy quyền

Về cái gọi là “Quốc gia Việt Nam”, nó là một chế độ bù nhìn do Pháp dựng nên từ năm 1947 đến năm 1955. Bởi sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc xong Bản “Tuyên ngôn Độc lập” (2-9-1945), khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, những lời thề đã vang lên: Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin thề: Cùng Chính phủ giữ nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng. Nếu Pháp đến xâm lược lần nữa thì chúng tôi xin thề: “Không đi lính cho Pháp, Không làm việc cho Pháp, Không bán lương thực cho Pháp, Không đưa đường cho Pháp!”. Đó là lời thề của toàn thể dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, cái gọi là “Quốc gia Việt Nam” chỉ là con rối do thực dân Pháp dựng nên để hiện thực hóa việc đô hộ nước ta. Nó lại thuộc cái gọi là “Liên bang Đông Dương” thuộc Liên hiệp Pháp, một tổ chức thuộc địa trá hình ở Đông Dương do Pháp dựng nên càng trở nên là một “trò hề chính trị”. Và cái gọi là “Quốc gia Việt Nam” chưa có Hiến pháp và Quốc hội, chỉ có cái hư danh Quốc trưởng Bảo Đại (người suốt ngày chỉ lo săn bắn và hưởng lạc ở Đà Lạt), nghĩa là không dựa vào ý chí và đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam mà chỉ dựa vào lưỡi lê và súng ống của lính lê dương Pháp. Thực dân Pháp trên thực tế nắm tất cả các quyền về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, tài chính...  của cái gọi là “Quốc gia Việt Nam”. Tướng Georges Revers, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, được phái sang Việt Nam để nghiên cứu tình hình (tháng 5, 6 năm 1949) đã viết: “Bảo Đại đã có một chính phủ gồm độ 20 đại biểu của toàn các đảng phái ma, trong số đó đảng mạnh nhất cũng khó mà đếm được 25 đảng viên”. Trong cuốn “Bảo Đại - hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam”, Daniel Grandclément viết: “Quen sung sướng, quen được cung phụng, Bảo Đại dường như chưa bao giờ nghĩ đến việc đi tìm độc lập bằng con đường nếm mật nằm gai như các vua Hàm Nghi, Duy Tân trước ông. Ông đã khước từ những cơ hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra, mang đến cho ông... Khước từ cơ hội đi chung đường với cả dân tộc, dù ông đã cùng chính phủ cộng hòa non trẻ ngồi họp bàn từ việc lớn đến việc nhỏ trong những ngày khai sinh nhà nước. Con đường mà Bảo Đại chọn cuối cùng đã dẫn đến kết cục ông hoàng bị quét đi như quét một hạt bụi vô giá trị...”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định về Bảo Đại với truyền thông quốc tế: “Vĩnh Thụy trở về với 100.000 viễn binh Pháp, để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước, đó là sự thực. Âm mưu của thực dân Pháp là đặt lại chế độ nô lệ ở Việt Nam. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc. Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân”.

Bởi thế, sau 9 năm kháng chiến chống Pháp gian khổ nhưng thắng lợi vẻ vang bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “vang vọng năm châu, chấn động địa cầu” (1954), nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã buộc kẻ thù phải ký vào Hiệp định Genève vào ngày 20-7-1954 để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Khi nhân dân cả nước đang mong chờ hiệp thương tổng tuyển cử thì vào tháng 7-1956, Ngô Đình Diệm lại trơ tráo tuyên bố: “Sẽ không có hiệp thương tổng tuyển cử, vì chúng ta không ký Hiệp định Genève, bất cứ phương diện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi Hiệp định đó”. Trước đó, Báo cáo của CIA do Allen Dulles trình lên cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy rằng nhân dân Việt Nam sẽ bầu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành, và không ai có thể thắng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng Tuyển cử tự do. Bởi vậy Mỹ đã sử dụng đến “con bài” Ngô Đình Diệm.

Upload

Ngô Đình Diệm, bù nhìn do Mỹ dựng nên

Ngô Đình Diệm là ai? Đây là tên tay sai từng làm quan cho triều đình Huế và là tên tay sai bị Pháp hất hủi nhưng được Mỹ lựa chọn, đào tạo và bản thân y đã thề trung thành với Mỹ trong mưu đồ hất cẳng Pháp khỏi miền Nam Việt Nam. Vào ngày 25-6-1954, Mỹ đã ép Pháp đưa Diệm lên làm Thủ tướng cái gọi là “Quốc Gia Việt Nam”. Bằng một loạt “trò hề chính trị” như trò “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại rồi tự suy tôn mình làm Tổng thống (tháng 10-1955), rồi tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (tháng 5-1956), ban hành hiến pháp của cái gọi là “Việt Nam Cộng Hoà” (tháng 10-1956)…, Ngô Đình Diệm đã trắng trợn phá hoại việc thống nhất Việt Nam, đồng thời xé bỏ luôn Hiệp định Genève. Cái gọi là “Việt Nam Cộng Hoà” tuy vậy về bản chất vẫn là bù nhìn, tay sai cho Mỹ bởi Lầu Năm Góc đã khẳng định: “Nam Việt Nam, về bản chất, là một sáng tạo của Hoa Kỳ”. Bởi vậy, không lạ gì Mỹ là quốc gia đầu tiên “công nhận” Việt Nam Cộng hòa. Trung tá Mỹ William R. Corson cũng phải thừa nhận vai trò của chế độ bù nhìn của Mỹ ở miền Nam Việt Nam là “cướp bóc, thu thuế, tái lập lại địa chủ, và tiến hành trả thù chống lại người dân”.

Tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo được một số đồng minh như Pháp, Anh... và một số nước Đông Nam Á lập ra khối “Liên minh quân sự Đông Nam Á” (SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này. Tính ra, từ năm 1954 đến năm 1960, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa 7 tỷ đôla, trong đó viện trợ quân sự là 1, 5 tỷ đôla, 80% ngân sách quân sự của chế độ bù nhìn Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ. Tính tổng thể, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã đổ vào chiến trường 8.744.000 binh lính nhưng kết quả nhận được là hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế).

Ngoài ra, quân đội Mỹ, đồng minh của Mỹ và quân đội cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa” đã gây ra hàng loạt tội ác như giết người, ném bom có chủ ý vào thường dân, rải chất độc da cam… Tiêu biểu cho hàng trăm vụ thảm sát là vụ thảm sát Mỹ Lai (16-3-1968). Và trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6-1967 đến 3-1973), đã có hơn 4.000 người Việt yêu nước chết, hàng chục ngàn người Việt yêu nước thương tật tàn phế tại trại giam Phú Quốc do Mỹ - ngụy dựng nên. Còn chất độc da cam, một hóa chất Mỹ sử dụng để phát quang rừng nhằm tìm nơi trú ẩn của quân Giải phóng đã có ảnh hưởng về di truyền sinh thái, đặc biệt gây ra tình trạng sẩy thai, lưu thai hoặc có con bị dị tật bẩm sinh ở người phụ nữ bị nhiễm. Tác động lâu dài của chất độc da cam không chỉ có 20 năm, mà có thể lên tới trên 100 năm. Hiệp hội nạn nhân chất độc da cam Việt Nam cho biết, hơn 4,8 triệu người Việt Nam đã tiếp xúc với thuốc diệt cỏ trong chiến tranh và hơn 3 triệu người nhiễm chất độc chết người này. Tuy nhiên, cho đến hiện nay phía Mỹ vẫn không chịu bồi thường cho những nạn nhân chất độc da cam bởi cho rằng mối liên hệ giữa các khuyết tật và thuốc diệt cỏ vẫn “chưa có đủ bằng chứng khoa học” (?!). Cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa” do đó đúng như trung tá Mỹ William R. Corson nói là “cướp bóc, thu thuế, tái lập lại địa chủ, và tiến hành trả thù chống lại người dân”.

 “Tức nước vỡ bờ”, tính đến cuối năm 1960, phong trào Đồng khởi của nhân dân miền Nam đã căn bản làm tan rã cơ cấu chính quyền cơ sở địch ở nông thôn. Trong 2.627 xã toàn miền Nam, nhân dân đã lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã, đồng thời làm tê liệt chế độ bù nhìn Diệm ở hầu hết các xã khác. Tiếp đó, riêng trong năm 1963, toàn miền Nam có 34 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị. Nhân dân đã phá hoàn toàn 2.895 “ấp chiến lược” trong số 6.164 ấp do địch lập ra, số còn lại đã bị phá đi phá lại 5.950 lần ấp. Nhân dân cũng đã phá được thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở 12.000 thôn trong tổng số 17.000 thôn toàn miền Nam, giải phóng hơn 5 triệu dân trong tổng số 14 triệu dân toàn miền Nam. Hơn 1,5 triệu ha trên tổng số 3,5 triệu ha ruộng đất đã về tay nông dân; hơn 23.000 thanh niên đã tham gia quân Giải phóng. Hàng nghìn “ấp chiến lược” đã biến thành làng chiến đấu.

Bên cạnh đó, cũng phải kể đến việc cấm treo cờ Phật giáo ở Huế năm 1963 đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ các Phật tử, dẫn đến các hoạt động đàn áp Phật giáo của Ngô Đình Diệm. Đây là một trong những nguyên nhân Diệm bị lật đổ và anh em nhà Diệm bị giết chết nhưng chủ yếu là do Mỹ muốn “thay ngựa giữa dòng” vì thấy Diệm là một tên tay sai không còn giá trị lợi dụng nữa. Liền sau đó là 14 cuộc đảo chính quân sự khác chỉ sau một năm rưỡi khiến chế độ ngụy Sài Gòn tê liệt, càng chứng tỏ bản chất “vô chính phủ” của cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa”.

“Hãy ném bom tan nát miền Bắc Việt Nam” - Đó là lời phát biểu của Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu (1965-1975) khi kẻ này kêu gọi Mỹ ném bom miền Bắc vào tháng 8-1972 được Báo AP ghi lại. Tờ báo Nhân đạo của Pháp sau đó đã bình luận rằng: “Ngay cả trong Chiến tranh thế giới thứ hai, những viên tướng Pháp phản bội cũng không dám đề nghị Đức Quốc xã tàn phá Paris để ngăn quân Anh-Mỹ. Thế mà nay Thiệu lại muốn Mỹ ném bom tàn phá đất nước mình. Thiệu thật đáng xấu hổ hơn cả sự xấu hổ”. Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Paris được ký vào ngày 27-1-1973, viện trợ quân sự của Mỹ cho chế độ tay sai Việt Nam Cộng Hòa đã cắt giảm nhiều: 1973: 2,1 tỷ USD, 1974: 1,4 tỷ USD, 1975: 0,7 tỷ USD. Bởi vậy, ngày 23-8-1974, tại Dinh Độc Lập, Tổng thống Ngụy Nguyễn Văn Thiệu đã trơ trẽn nói với phía Mỹ: “Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô-la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài Gòn đi Tokyo”. Sau này, trong tập hồi ký “Mùa Xuân Đại Thắng”, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã viết chúng ta mở cuộc tổng tấn công ở miền Nam năm 1975 là do đánh giá chính xác Mỹ đã bỏ rơi chế độ bù nhìn tại miền Nam Việt Nam.

“Giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta chiến thắng đế quốc Mỹ”, đó chính là lời của Thượng tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh quân quản Sài Gòn, nói với Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh. Và trước đó, Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh đã thốt lên với thân tín của mình khi cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa” sắp cáo chung vào tháng 4-1975 rằng: Hết Tây đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho một nước nào khác nữa sao! Câu nói của Dương Văn Minh đã chứng tỏ cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa” về bản chất chỉ là tay sai cho thực dân đế quốc!

Upload

Nguyễn Văn Thiệu, kẻ kêu gọi Tổng thồng Mỹ Nixon ném bom “tan nát” miền Bắc

Tóm lại, ngụy quyền cùng ngụy quân Sài Gòn là một thứ bù nhìn, tay sai của Mỹ, hoàn toàn không có tư cách là một chính quyền, nhân dân không ủng hộ nó mà còn mong muốn lật đổ nó vì nó gây nhiều tội ác với dân tộc, trong đó nổi bật nhất là làm tay sai cho đế  quốc thực dân trong mưu đồ biến nước ta thành một thuộc địa dù “kiểu cũ” hay “kiểu mới”. Cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa” không phải là một quốc gia mà chỉ như là “hình bóng” vương triều Nguyễn thời thuộc Pháp, như cái gọi là “Đế quốc Việt Nam” thời thuộc Nhật, “Quốc gia Việt Nam” thời kháng chiến chống Pháp, chỉ là những “trò hề chính trị” do ngoại bang nặn ra để làm bù nhìn, tay sai cho chúng. Xin nhắc lại và nhấn mạnh về bản chất thật sự của cái gọi là “Việt Nam Cộng Hòa”: Lầu Năm Góc khẳng định “Nam Việt Nam, về bản chất, là một sáng tạo của Hoa Kỳ”. Trung tá Mỹ William R. Corson thì thừa nhận vai trò của chế độ bù nhìn của Mỹ ở miền Nam Việt Nam là “cướp bóc, thu thuế, tái lập lại địa chủ, và tiến hành trả thù chống lại người dân”. Và ngụy quân đội Sài Gòn hoàn toàn là một quân đội bù nhìn do thực dân Pháp (1947-1955) và đế quốc Mỹ (1955 – 1975) tổ chức, trang bị, nuôi dưỡng và chỉ huy để thực hiện chính sách “dùng người Việt đánh người Việt”, một thủ đoạn không mới vì trước đó trong thời Pháp thuộc, thực dân Pháp từng dùng lính Nam triều và lính người Việt làm tay sai cho chúng. Tuy nhiên, với những quan chức, binh lính ngụy biết điều mình đang làm là sai lầm và đã trở về với cách mạng, đã trở về với nhân dân để chiến đấu chống lại đế quốc thực dân và tay sai của chúng cũng như góp phần tái thiết, xây dựng đất nước sau chiến tranh chống thực dân đế quốc thì nhân dân luôn sẵn sàng dang rộng vòng tay. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân”.

Do đó, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và sau này là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới là quốc gia duy nhất được toàn thể nhân dân Việt Nam tín nhiệm và toàn thể nhân dân Việt Nam sẵn sàng hy sinh tất cả để giữ vững. Vì sao như vậy? Bởi sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc xong Bản “Tuyên ngôn Độc lập” (2-9-1945), khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, những lời thề đã vang lên: Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin thề: Cùng Chính phủ giữ nền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng. Điều này thể hiện qua thắng lợi của toàn dân trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và chống đế quốc Mỹ (1954-1975) cùng bè lũ tay sai của chúng. Còn sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì được chứng minh rõ là toàn thể nhân dân Việt Nam đã sát cánh với Chính phủ trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc và trong sự nghiệp Đổi mới, xây dựng Đất nước ngày nay.

72 năm đã trôi qua với nhiều thử thách khốc liệt của lịch sử, từ chỉ có 11 nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam (tính từ năm 1945 đến năm 1954), đến năm 2015 nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả châu lục; đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với nhiều quốc gia chủ chốt trên thế giới. Đặc biệt, tại phiên họp lần thứ 32 Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 20-9-1977, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 149 của tổ chức đa phương lớn nhất thế giới này dù từ sau năm 1975, Mỹ và bè lũ phản động quốc tế đã bao vây cấm vận và ra sức ngăn cản nước ta nha nhập Liên Hiệp Quốc (đến tận năm 1995 Mỹ mới chấp nhận bình thường hóa quan hệ với Việt Nam). Và vị thế của Việt Nam trong Liên Hiệp Quốc cũng ngày càng nâng cao, đặc biệt là với vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009. Điều này chứng tỏ những chế độ bù nhìn do đế quốc thực dân dựng lên tại Việt Nam không chỉ bị nhân dân Việt Nam chối bỏ mà nhân dân thế giới cũng không thèm đếm xỉn, quan tâm đến.

 

 

 
Tên bạn
Email
Số điện thoại
Địa chỉ
Chủ đề
Nội dung
Mã kiểm tra Thay đổi hình ảnh mã số
Nhập mã kiểm tra (Nhập mã số kiểm tra vào ô này)
Diễn đàn khác:
Hãy nghĩ để hướng tới ngành trông rừng hỗn giao kinh doanh tổng hợp cho miền Tây Nghệ An (9/7/2018)
Ý kiến về cải cách giáo dục: Thầy giáo phải có tri thức uyên bác và văn hóa cao (9/7/2018)
Du lịch và vấn đề đưa "đặc sản" dân ca ví, giặm vào hoạt động du lịch ở xứ Nghệ (29/6/2018)
Thay đổi tư duy và cách làm để phát triển du lịch văn hóa (28/6/2018)
Tham nhũng và tham nhũng tinh thần (28/6/2018)
Về việc “đánh giá lại” lịch sử (26/6/2018)
Đặc khu - Động lực phát triển và giá trị bền vững (18/6/2018)
Nhìn lại 5 năm thực hiện Luật Khoa học và Công nghệ (24/5/2018)
Luận bàn về CHỮ và NGHĨA (17/5/2018)
Việt Nam qua ghi chép của người phương Tây: Tang lễ một ông vua Đàng Ngoài (10/5/2018)
Việt Nam qua ghi chép của người phương Tây: Lễ đăng quang của vua (9/5/2018)
Bàn về việc người xưa "Tiến cử, lựa chọn" và chuyện "Một người làm quan cả họ làm quan" ngày nay (18/4/2018)
Đánh thuế thông minh (16/4/2018)
Kiến tạo thu nhập cao: Sao khó thế?! (13/4/2018)
Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam (5/4/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách
Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
Giới thiệu sách Con người dân tộc và các nền văn hóa chung sống trong thời đại toàn cầu hóa
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 462 | Tất cả: 1,294,323
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn