KHXHNV & ĐỜI SỐNG
Cộng đồng các dân tộc thiểu số Nghệ An phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới
Tin đăng ngày: 18/6/2018 - Xem: 143
 

                                                                              Quán Vi Miên

                  Upload                            Dân tộc thiểu số ở Nghệ An (Ảnh: Sách Nguyển)

  1. Điều kiện tự nhiên của miền núi Nghệ An

Miền núi Nghệ An (MNNA) là một vùng đất rộng mênh mông, núi non hùng vĩ, thiên nhiên giàu đẹp, nên thơ. Đi dọc theo con đường 48 từ Quế Phong xuống Quỳ Châu, Quỳ Hợp, chúng ta thấy những ngọn núi cao như Pu Pai, Pu Chộng Cha, Pu Xén, Pu Chong, Pu Chẻ, v.v. Dọc theo con đường số 7 từ Kỳ Sơn xuống Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, chúng ta gặp những ngọn núi cao như Pu Tóng Chính, Pu Xai Lái Lẹng, Pu Mạt, Pu Ống, v.v. Những ngọn núi trùng điệp ấy là cả một kho của cải vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Nào là gỗ, nứa, giang, mây, song, mộc nhĩ, nấm hương, trầm, muông thú và bao nhiêu thứ khác nữa. Từ những ngọn núi ấy chảy ra hàng trăm dòng sông, suối lớn nhỏ róc rách ngày đêm như Nặm Việc, Nặm Giải, Nặm Quang, Nặm Huống, Nặm Tốn, Nặm Mộ, Nặm Nơn, v.v. Những dòng sông, suối ấy gặp nhau ở các ngã ba (xốp nặm) và đổ vào các dòng sông to hơn như sông Dinh, sông Hiếu, sông Con, Nặm Pao (thượng nguồn sông Lam), sông Cả (sông Lam), rồi cuồn cuộn đổ ra biển Đông. Người dân miền núi Nghệ An đánh bắt từ những dòng sông, suối ấy nào là cá, tôm, cua, ốc, ba ba, rêu, v.v. Hàng trăm dòng sông, suối ấy là nguồn thủy điện dồi dào, đã được đánh thức, như Thủy điện Bản Vẹ (Tương Dương), Nặm Mộ (Kỳ Sơn), Húa Na (Quế Phong), v.v. Nằm giữa những dãy núi trùng trùng điệp điệp kia là những thung lũng xanh tươi, những cánh đồng lúa nổi tiếng Mường Nọc, Mường Quang, Mường Chiêng Ngam, Mường Hám, Mường Khủn Tinh, Mường Quạ, Mường Mèn, v.v. Những cánh đồng ấy là những vựa lúa của miền núi Nghệ An, nuôi sống trước hết người MNNA. MNNA còn nổi tiếng về tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất. Đó là đá đỏ Quỳ Châu, thiếc Quỳ Hợp, vàng Tương Dương, thạch cao Kỳ Sơn, v.v. Điều kiện khí hậu MNNA không tránh khỏi những yếu tố khắc nghiệt, như gió Lào (fơn), hạn hán, lũ lụt, gió Bắc (bấc), v.v. Có những vùng khô, ít mưa như Mường Xén. Nhưng MNNA cũng có những nơi khí hậu mát mẻ, trong lành, độc đáo - Á ôn đới - như Mường Lống (Kỳ Sơn). MNNA cũng là nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, hữu tình. Trên các dòng sông, suối có bao nhiêu là thác nước. Nổi tiếng là thác Xao Va (Quế Phong), Khe Kẽm (Con Cuông), Bản Bìa (Quỳ Hợp), và núi: Dãy núi nguyên sinh Pu Mạt chạy dọc theo biên giới Việt – Lào, kéo dài từ huyện Anh Sơn lên Con Cuông, Tương Dương, hay dãy núi Pu Huống bao trùm vùng giáp giới giữa các huyện Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương Dương, Quế Phong – là cả một vùng sinh thái quý hiếm đang được bảo tồn. Nhìn vào thiên nhiên/tự nhiên MNNA có thể thấy được tiềm năng to lớn của ngành du lịch sinh thái, du lịch văn hóa tộc người trong thời kỳ mới.

  1. Điều kiện xã hội, truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Nghệ An

Trên vùng đất MNNA chung sống một cộng đồng các dân tộc thiểu số (DTTS) từ lâu đời. Theo các tư liệu nghiên cứu, thì tộc người Ơ Đu là chủ nhân xa xưa của vùng đất này. Người Ơ Đu quy tụ ở vùng Tương Dương ngày nay, hình thành tổ chức tộc người khá chặt chẽ. Người Thổ, thuộc ngữ hệ Việt – Mường, có nhiều nhóm, cổ nhất là Tày Pọọng, Đan Lai – Ly Hà, còn một số có nguồn gốc từ người Mường - Thanh Hóa vào, người Kinh từ miền xuôi lên. Người Thái đến “chậm nhất là vào đầu thế kỷ thứ XV” (theo Đặng Nghiêm Vạn), hoặc “sớm hơn thế kỷ thứ VI” (theo Chamblain) (?), có mấy nhóm và theo hai đường chủ yếu: Từ Tây Bắc, Thanh Hóa vào, hoặc từ Lào sang. Người Khơ Mú, người H’Mông đến muộn hơn, cách nay khoảng 2 - 3 thế kỷ.

Các DTTS miền núi Nghệ An sống đan xen với nhau và hòa thuận từ lâu đời. Người Ơ Đu có truyện cổ Đám cưới trên núi Pú Pầu nói về người Kinh (hặc Thái?) tranh chấp cô dâu người Ơ Đu rồi dẫn đến xung đột, làm bản họ tan hoang… Nhưng đó là “truyện cổ”, là hồi âm từ quá vãng xa xôi - thị tộc, bộ lạc gì đó mà thôi. Trong lịch sử cận - hiện đại không có một cuộc “va chạm văn hóa” nào như thế. Trong các bản sử thi của người Thái như Xuống mường (Lông mương), Trông mường (Mổng mương), không thấy nói đến xung đột tộc người ở MNNA. Hai bản sử thi ấy chỉ nói đến việc chinh phục tự nhiên, khai mường lập bản. Đôi chỗ nhắc đến các nhân vật người Kinh, Khơ Mú, Lào… thì lại rất có thiện cảm – họ thân thiện và hòa đồng với người Thái. Trong một số bản Mo của người Thái có nhắc đến người Khơ Mú thì lại gọi là “khách” và mời ăn mâm cúng hẳn hoi. Mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng, phong tục tập quán riêng, tâm lý tộc người riêng, kho tàng văn hóa văn nghệ dân gian riêng… Tức là có bản sắc văn hóa dân tộc riêng. Người Thái có sử thi, truyện cổ, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao, tục ngữ, câu đố, v.v., thì các dân tộc khác cũng vậy. Rất tiếc là vốn văn hóa văn nghệ dân gian các dân tộc khác chưa sưu tầm, giới thiệu được nhiều, đầy đủ. Nghệ thuật diễn xướng dân gian của người Thái có Mo, khắp/hắp dân ca, hát ru, đồng dao, v.v; thì người Thổ có Đu đu điềng điềng, Tập tình tập tang, Khai khai rế, Kể đắng, v.v; người H’Mông có Tiếng hát làm dâu, Khúa kê (cúng ma), Chéo sáng dù (Giao ân huệ), gầuplềnh (dân ca), v.v; người Khơ Mú có hát Tơm, v.v. Người Thái có đánh cồng, nhảy sạp, ném Còn, v.v., thì người H’Mông có ném Pa pao, đánh quay, v,v., và các dân tộc khác cũng như vậy. Người Thái có lễ hội Xắng Khán, Chôm mơng phạ họng (Mừng tiếng sấm đầu xuân), Mơng hươn mở (Mừng nhà mới), Xở khầu mở (Cúng cơm mới), v.v., thì người Khơ Mú cũng có những lễ hội ấy. Người Thổ thì có lễ hội Chọn chủ giống, Xuống giống, Đâm đầu moong (Đâm đầu thú), Xang lải (Quăng lưới săn), v.v. Còn mùa xuân, ăn Tết, chơi hang, đám cưới, đám tang, đối với các DTTS cũng như là lễ hội của bản mường vậy. Những dịp ấy mới thấy người ta mặc trang phục dân tộc rõ nét nhất, sặc sỡ nhất, đặc biệt là phụ nữ. Người H’Mông với bộ quần áo đen, rộng. Phụ nữ đội khăn, thắt dây lưng, đeo vòng bạc, xà tích. Phụ nữ H’Mông Hoa thì mặc váy thêu, rất đẹp. Phụ nữ Thái búi tóc trên đầu (tằng cầu, với người có chồng), đội khăn Piêu, mặc váy thêu voi, rồng, hươu nai, hoa mặt trời, thắt lưng xanh hoặc đỏ, thêu hoặc không, bỏ hai đầu thả xuống một bên ... Nhà ở cũng thể hiện nét văn hóa riêng. Nhà truyền thống người H’Mông có cột cái ở giữa để treo trống. Nhà người Thái, Thổ, Khơ Mú, Ơ Đu là nhà sàn, tùy hoàn cảnh mà làm to, đẹp, hay chỉ làm bằng tranh, tre, nứa, lá đơn giản. Phương thức canh tác của các dân tộc phù hợp với điều kiện tự nhiên từng vùng. Người H’Mông, Khơ Mú, Ơ Đu ở rẻo giữa và rẻo cao thì làm rẫy. Người Thái ở ven sông, suối và trong các thung lũng thì làm ruộng. Người Thổ ở vùng trung du thì làm nương (nại). Các dân tộc tin là con người có hồn vía, cây cỏ, sông núi, v.v. cũng có linh hồn (vạn vật hữu linh). Người Khơ Mú thường có họ là chim, hổ, sóc, thú, v.v. Đó là dấu vết của tô tem ngày trước. Người Thái có họ kiêng ăn thịt hổ (Lang), chim Tăng Ló (Lò), bìm bịp (Ca), v.v., cũng với ý nghĩa ấy. Các dân tộc đều thờ cúng tổ tiên. Như vậy, cùng sống trên vùng đất MNNA bao la, giàu đẹp, các dân tộc H’Mông, Khơ Mú, Ơ Đu, Thái, Thổ… đã cùng nhau xây dựng và bảo vệ bản mường, rừng núi từ bao đời nay. Trong quá trình đó, họ đã kiến tạo nên nền văn hóa riêng, đặc sắc của dân tộc mình, điểm tô thêm cho xứ sở ngày càng tươi đẹp. Thế hệ ngày nay tiếp nối giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa ấy trong thời kỳ mới.

  1. Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới

Từ ngôi nhà sàn truyền thống, người Thái, Ơ Đu, Khơ Mú, Thổ… ngày nay đã vận dụng môi trường mới, vật liệu mới, cấu tạo nên những ngôi nhà sàn đẹp hơn, vững chắc hơn, có đủ tiện nghi (hiện đại) hơn. Những bản làng mới, đặt ở nơi bằng phẳng, thoáng rộng, thay dần những bản làng cheo leo bên sườn núi heo hút. Người Thái từ lâu đã trồng bông, dệt vải, chăn tằm, thì ngày nay lại dệt thổ cẩm thành hàng hóa, có nơi tổ chức thành tổ, đội, hợp tác dệt thổ cẩm, làm các mặt hàng phục vụ du lịch. Người Khơ Mú có nghề thủ công đan lát, nay phát triển lên thành hàng hóa như rổ, rá, ghế mây, mâm mây... Người H’Mông giỏi nghề rèn, làm ra các nông cụ sắc bén như dao, cuốc, lưỡi cày có thể cày trên nương đá... Xưa người ta đắp phai, bắc guồng nước để dẫn nước vào ruộng, hoặc đạp cối gạo nương, v.v. Nay người ta đắp đập, đào ao nuôi cá, lắp máy thủy điện nhỏ (đối với vùng xa, sâu), đưa nước về phục vụ sinh hoạt... Người Thổ xưa có nghề trồng gai, đan võng, lưới, chài ... Đời sống kinh tế ngày càng được cải thiện, bữa ăn các dân tộc có những nét mới, tiếp biến với xung quanh, nhưng những món ăn, khẩu vị riêng lại trở thành “đặc sản”, hấp dẫn du khách. Gạo, cải, gà H’Mông thì ai cũng muốn ăn cho biết. Nếp, thịt cá ướp chua, cơm lam, thịt nướng, thịt cá sấy khô/hun khói, món chẻo (chấm), nặm pịa (món vèo non động vật ăn cỏ) của người Thái thì nổi tiếng từ lâu. Món nhọọc thịt chuột khô, chẻo cay, canh lam... của người Khơ Mú cũng có cái ngon riêng. Rượu cần, rượu xiêu Thái hay rượu cần Khơ Mú đã là món người ta phải “cất công đi tìm”, nhất là trong những ngày hè nóng nực. Đó là “bản sắc văn hóa vật chất” (không thể nói hết).

Một khía cạnh nữa cũng cần phải được phát huy. Đó là “văn hóa tinh thần”. Không chú ý mặt này thì con người, xã hội sẽ “lãnh đủ”. Có lẽ tội phạm ngày càng gia tăng, mặt nào đó là do người ta đã “chểnh mảng” về vấn đề này chăng? Con người sinh ra phải được “tắm gội” trong dòng chảy “văn hóa dân tộc”, trong phong tục tập quán, lễ hội, văn học dân gian, đạo lý, chuẩn mực cộng đồng... Văn hóa hiện đại ập đến theo trào lưu toàn cầu hóa, làm người ta choáng ngợp. Nhưng sau đó thì người ta tĩnh tâm lại, và có người lại đi tìm “nền văn hóa dân tộc đã mất” (thật ra thì không bao giờ mất cả). Chán với nhạc điện tử, người ta lại lên núi nghe khèn Thái, khèn H’Mông. Mệt với các điệu nhảy lắc/ngoáy mông cùng tiếng nhạc chói tai, người ta lại thích xòe Thái, múa/nhảy Khơ Mú. Ngán các trang mạng, người ta thích xem các bản chữ Thái – Lai Tay, Lai Pao ghi lại các sử thi, truyện thơ, tục ngữ, ca dao, v.v. Nghe cồng chiêng người Thổ và dự lễ hội Bà Trầy của họ thì ta mới cảm nhận được chiều sâu văn hóa của tộc người này…

Năm DTTS chính ở MNNA, mỗi dân tộc có những nét riêng về văn hóa. Nó càng điểm tô thêm hương sắc cho văn hóa dân tộc tỉnh nhà nói chung. Cần phát huy bản sắc văn hóa các DTTS Nghệ An trong thời kỳ mới.

 

                                                                                      28/4/2017

 

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Đình Lộc, Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An, Nxb Nghệ An, 1993.
  2. La Quán Miên, Phong tục tập quán các dân tộc thiểu số Nghệ An, Nxb Nghệ An, 1997.
  3. Ban Dân tộc Nghệ Tĩnh, 40 năm, một chặng đường, Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh, 1985.
  4. Ninh Viết Giao (chủ biên), Tân Kỳ- truyền thống và làng xã, Nxb KHXH, H., 1992.
  5. Ninh Viết Giao (chủ biên), Địa chí Quỳ Hợp, Nxb Nghệ An, 2003.
  6. Ninh Viết Giao (chủ biên), Địa chí Tương Dương, Nxb KHXH, 2003.
KHXHNV & Đời sống khác:
Khoa học và công nghệ tạo đột phá trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp (4/12/2018)
Kinh tế Nghệ An sẽ thích ứng như thế nào trước cách mạng công nghiệp 4.0 (4/12/2018)
Học tập và vận dụng tấm gương tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh (29/11/2018)
Nhân tính, Quốc tính và Cá tính (28/11/2018)
Giáo dục Mới tại Việt Nam: Những nhà tiên phong thể nghiệm (23/11/2018)
Giáo dục lương tâm? (23/11/2018)
Ngô Thì Nhậm, người kế tục xứng đáng truyền thống văn chính luận Việt Nam trung đại (14/11/2018)
Tìm hiểu về trường học tại các làng xã ở Nghệ An trước năm 1919 qua tư liệu tục lệ và văn bia (9/11/2018)
Giải phóng phụ nữ theo tư tưởng của Karl Marx và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay (9/11/2018)
Kí hiệu cái chết trong tiểu thuyết của Dư Hoa (10/10/2018)
Về một số doanh nhân nổi tiếng ở Vinh trước Cách mạng tháng 8/1945 (9/10/2018)
Nhận diện dấu ấn kiến trúc Pháp ở Vinh đầu thế kỷ XX (9/10/2018)
Những sự kiện làm thay đổi dòng chảy lịch sử - văn hóa vùng đất Vĩnh Yên (Yên Trường xưa) (9/10/2018)
Quá trình đô thị hóa & sự hình thành tầng lớp thị dân ở Vinh thời Pháp thuộc (9/10/2018)
Kỷ niệm 230 năm Phượng Hoàng - Trung Đô (1788 - 2018): Một ngọn núi - Một tầm nhìn (8/10/2018)
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
Giới thiệu sách: Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Nghĩa Lộc (1953-2017)
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 1,498 | Tất cả: 1,553,074
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san KHXH & NV |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp