HOME | NGHIÊN CỨU KHXH&NV

Phát triển kinh tế tư nhân - Cần một hành lang pháp lý thông suốt cho một xu thế tất yếu trong thời kỳ mới!

Sau hơn 30 năm đổi mới, kể từ Đại hội VI của Đảng, kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã ngày càng được coi trọng và khuyến khích phát triển. Từ chỗ chỉ được thừa nhận và cho phép tồn tại trong nền kinh tế nhiều thành phần (Đại hội VI-1986), đến nay, kinh tế tư nhân đã được coi là “một động lực quan trọng của nền kinh tế và là một xu thế tất yếu giúp Nhà nước thực thi nhiệm vụ kinh tế đã đề ra” (Đại hội XII - 2016). Đây là một bước tiến lớn về mặt nhận thức đối với kinh tế tư nhân. Từ chủ trương của Đảng và sự thể chế bằng pháp luật của Nhà nước; kinh tế tư nhân đã có sự chuyển mình mạnh mẽ, phong trào khởi nghiệp như đã tạo ra một sự bứt phá. Chỉ tính riêng năm 2016, có hơn 110 nghìn doanh nghiệp mới được thành lập, cao nhất trong những năm qua. Kinh tế tư nhân sử dụng 85% lực lượng lao động trong nền kinh tế, có tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2003 - 2015 là 10,2%/năm, đóng góp khoảng 39 - 40% GDP của đất nước. Bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn. Đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh. Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII ra đời chính là sự khẳng định sâu sắc hơn chủ trương đúng đắn đó của Đảng.

Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trong thời gian gần đây, cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đã trở thành chủ đề được nghiên cứu, phân tích và bàn luận rộng rãi tại nhiều diễn đàn với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Thực tế cho thấy, cách mạng công nghiệp 4.0 bắt đầu có ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau tới các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị tại Việt Nam. Trong bối cảnh như vậy, cần thiết phải nghiên cứu, đánh giá đầy đủ về hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, coi đó như một giải pháp phù hợp, một cách thức ứng phó hiệu quả để tranh thủ các cơ hội mà cách mạng công nghiệp 4.0 mang đến cho Việt Nam.

Phương thức đánh giá, đo lường kiến thức và năng lực của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược

Cấp chiến lược là cấp lãnh đạo, quản lý cao nhất, ở tầm vĩ mô, có quy mô, mức độ rộng lớn nhất, có tầm ảnh hưởng lớn nhất đối với sự phát triển của đất nước, cũng như trong đối ngoại ở tầm quốc tế. Cấp chiến lược phải là nơi hội tụ, quy tụ được lực lượng tài giỏi, ưu tú nhất, những nhân tài, hiền tài, kết tinh tinh hoa của đất nước, của dân tộc để hoạch định Cương lĩnh, chiến lược, chính sách phát triển về mọi lĩnh vực. Cấp chiến lược còn phải thu hút được tinh hoa của thế giới, để làm giàu tiềm năng, tiềm lực phát triển của đất nước thông qua đường lối, chính sách đúng đắn, sáng suốt, khôn ngoan. Đội ngũ cán bộ cấp chiến lược là lực lượng, là đội ngũ tinh hoa thực thi sức mạnh, trọng trách đó. Từ yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh đến nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược

Phát huy vai trò của trí thức, bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Xem xét nguồn nhân lực chất lượng cao, hay nói đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trước hết phải nói đến đội ngũ trí thức, tầng lớp chính khách và doanh nhân là ba bộ phận quan trọng nhất, quyết định chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng phát triển của đất nước. Đội ngũ trí thức ở đây bao gồm cả lực lượng lao động có tay nghề cao - có người gọi là tầng lớp kỹ nghệ gia. Tầng lớp chính khách bao gồm cả các chính khách lẫn các nhà quản lý bậc trung và cao cấp, hay còn gọi là tầng lớp quản lý gia. Tầng lớp doanh nhân gồm các doanh nhân hạng vừa và lớn. Bộ ba tầng lớp này chính là nguồn nhân lực chất lượng cao của xã hội hiện đại. Một quốc gia hiện đại không thể phát triển được nếu thiếu một trong ba đỉnh của tam giác nhân lực này. Chỉ khi có được tam giác nhân lực này thì các nguồn lực khác mới được khai thác tốt, mới phát huy được vai trò của chúng, khả năng phát triển nhanh của đất nước mới trở thành khả thi[1].

Biến đặc sản thành hàng hóa

Nghệ An với nhiều địa hình và tiểu vùng khí hậu khác nhau, nhiều dân tộc khác nhau sinh sống là môi trường lí tưởng cho sự đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa. Từ sự đa dạng đó đã sinh ra không biết bao nhiêu là đặc sản, những sản phẩm không chỉ phản ánh sự độc đáo của vùng đất mà còn kết tinh sự độc đáo của văn hóa, của con người nơi đây. Từ bao đời nay danh tiếng của những sản vật này không còn dừng lại trong tỉnh, mà đã bay xa đến các vùng miền khác trong và ngoài nước. Về cây đặc sản, hầu như không ai lại không biết những sản vật như: khoai sọ Kì Sơn; xoài Tương Dương; Quế Quỳ; cây lùng Quỳ Châu; trám đen Thanh Chương; các loài dược liệu; các giống dưa rẫy, lúa nương…Về vật nuôi, những bò Mông; trâu Na Hỷ; lợn đen; gà ác, vịt bầu Quỳ; cánh kiến…cũng nổi tiếng từ lâu. Bên cạnh đó, những sản phẩm qua bàn tay chế biến của con người như thổ cẩm, hương trầm, các bài thuốc nam bí truyền; sản phẩm nghề rèn của người Mông, nghề đan lát của người Thái…cũng là những sản phẩm đặc sắc, không chỉ được sử dụng trong đời sống hàng ngày của đồng bào các dân tộc, mà còn là những sản phẩm được ưa chuộng, thậm chí được săn lùng của những người ở nhiều nơi trong và ngoài nước.

Phát triển kinh tế tư nhân - Cần một hành lang pháp lý thông suốt cho một xu thế tất yếu trong thời kỳ mới!

Sau hơn 30 năm đổi mới, kể từ Đại hội VI của Đảng, kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã ngày càng được coi trọng và khuyến khích phát triển. Từ chỗ chỉ được thừa nhận và cho phép tồn tại trong nền kinh tế nhiều thành phần (Đại hội VI-1986), đến nay, kinh tế tư nhân đã được coi là “một động lực quan trọng của nền kinh tế và là một xu thế tất yếu giúp Nhà nước thực thi nhiệm vụ kinh tế đã đề ra” (Đại hội XII - 2016). Đây là một bước tiến lớn về mặt nhận thức đối với kinh tế tư nhân. Từ chủ trương của Đảng và sự thể chế bằng pháp luật của Nhà nước; kinh tế tư nhân đã có sự chuyển mình mạnh mẽ, phong trào khởi nghiệp như đã tạo ra một sự bứt phá. Chỉ tính riêng năm 2016, có hơn 110 nghìn doanh nghiệp mới được thành lập, cao nhất trong những năm qua. Kinh tế tư nhân sử dụng 85% lực lượng lao động trong nền kinh tế, có tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2003 - 2015 là 10,2%/năm, đóng góp khoảng 39 - 40% GDP của đất nước. Bước đầu đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn. Đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh. Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII ra đời chính là sự khẳng định sâu sắc hơn chủ trương đúng đắn đó của Đảng.

Một góc nhìn về các doanh nghiệp khởi nghiệp từ thế mạnh địa phương

Những doanh nghiệp nông nghiệp, tận dụng thế mạnh của các địa phương gần đây xuất hiện khá nhiều trong các cuộc thi khởi nghiệp. Tuy nhiên, nếu đem định nghĩa startup của Steve Blank là “tổ chức được thành lập để đi tìm kiếm một mô hình kinh doanh mở rộng ra được và lặp lại được”, thì có thể nói 99% số doanh nghiệp này không được gọi là startup. Họ là những doanh nghiệp hoàn toàn sản xuất sản phẩm dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường và kiếm tiền. Mô hình kinh doanh cũng hết sức truyền thống và khá đơn giản.

Sản Vật Nghệ An được bảo hộ

Với chủ đề thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và tác động KH&CN trực tiếp cho chuỗi các sản phẩm đặc sản của địa phương, trong thời gian vừa qua hàng loạt các đề tài, dự án đầu tư theo chuỗi giá trị tạo nên sản phẩm có thương hiệu Nghệ An đã cho thấy được hiệu quả và giá trị thực tiễn. Đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có 01 Chỉ dẫn địa lý; 01 nhãn hiệu chứng nhận và 17 đối tượng được cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể. Nhân dịp đón xuân năm mới Mậu Tuất, xin được tổng hợp giới thiệu một số sản vật Nghệ An được bảo hộ.

Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới

Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới

Đòn bẩy Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị và thực trạng phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp vừa và nhỏ tại Nghệ An

1. Đặt vấn đề Ngày 30/7/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020. Nghị quyết nêu rõ: từ nay đến năm 2020, trên cơ sở vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, các nghị quyết của Trung ương gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XVII của Đảng bộ tỉnh, Nghệ An cần tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy nội lực, tận dụng, thu hút mọi nguồn lực cả trong, ngoài tỉnh và nước ngoài, phấn đấu xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc vào năm 2015, tạo cơ sở đến năm 2020 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp; là trung tâm về tài chính, thương mại, du lịch, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Trung bộ; có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc xứ Nghệ; quốc phòng, an ninh vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Để thực hiện mục tiêu đó, trong những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ, Nghệ An đã chú trọng đẩy mạnh việc đầu tư, phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp (KKT, KCN) và khu công nghiệp nhỏ (KCNN). Theo kinh nghiệm phát triển kinh tế của các quốc gia, sự ra đời và phát triển các KKT, KCN, KCNN là rất cần thiết đối với một địa phương có nền kinh tế đang phát triển như tỉnh Nghệ An nói riêng và Việt Nam nói chung.

Bức tranh kinh tế Nghệ An sau 4 năm thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (2013 - 2017)

ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày 30 tháng 7 năm 2013, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 26 “Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020”. Đây là một Nghị quyết đặc biệt, bởi vì ngoài Hà Nội và thành phố Hồ Chi Minh chưa có địa phương nào được BCT ban hành một Nghị quyết riêng như vậy. Đối với Nghệ An có thể coi đây là cơ hội để toàn Đảng, toàn dân phấn đấu xây dựng quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh xứng tầm với các giá trị lịch sử và văn hóa; đây là cơ hội để Nghệ An bứt phá vươn lên trở thành tỉnh khá, tỉnh công nghiệp đến năm 2020. Tuy nhiên, ngay từ thời điểm đó người dân Nghệ An đều hiểu rằng đó là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, một thử thách bản lĩnh, trí tuệ của Đảng bộ và nhân dân Nghệ An. Đến nay sau 5 năm, Nghệ An cần đánh giá xem mục tiêu nào đã thành hiện thực, mục tiêu nào đang trên đường về đích, mục tiêu nào còn dở dang, còn “lỗi hẹn” với Đảng và Nhà nước. Bài nghiên cứu này trình bày tình hình phát triển kinh tế Nghệ An từ 2013 đến 2017. Kết quả phân tích đã chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, yếu kém làm chậm lại việc thực hiện NQ 26 của BCT.

Tìm hiểu về biến đổi vai trò của người phụ nữ ven biển Cửa Lò

Khi đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, ngư dân miền biển Cửa Lò chỉ sắm được thuyền nhỏ, đàn ông ở đây chỉ đánh bắt cá tôm quanh quẩn gần bờ. Buổi sáng đi biển, chiều đã có mặt ở nhà. Hầu như chuyện gì trong gia đình đều có người chồng cáng đáng.

 1   2   3   4 

 
THƯ VIỆN KHXH&NV
Giới thiệu sách hay: Chămpa và khảo cổ học Mỹ Sơn
Giới thiệu sách hay: Chămpa và khảo cổ học Mỹ Sơn
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
Trang chủ | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Thông tin - Tư liệu | KHXH&NV trong & ngoài nước |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75A - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvnghean@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn