HOME | NGHIÊN CỨU KHXH&NV

Sinh kế cư dân ven biển Nghệ An - Những biến đổi trong điều kiện phát triển du lịch

Trong bối cảnh gia tăng mức độ toàn cầu hóa và sự tăng lên không ngừng mức sống của người dân, sự phát triển du lịch một cách nhanh chóng trong 2 thập niên đầu thế kỷ XXI mang lại một nguồn thu lớn cho các quốc gia nói chung, các địa phương nói riêng trên phạm vi toàn cầu. Đứng trước nguồn lợi khó cưỡng này, chính quyền địa phương phải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; người dân, như một hàn thử biểu về độ nhạy trong thích ứng, đã nhanh chóng thay đổi sinh kế của mình. Bài viết này sẽ phân tích biến đổi sinh kế của cư dân ven biển Nghệ An trong bối cảnh phát triển du lịch trong một thập niên vừa qua từ các tài liệu thứ cấp và một số khảo sát thực địa trên cơ sở vận dụng các gợi ý từ nội hàm các khái niệm kinh tế thị trường (market economy), du lịch và chiến lược đa dạng sinh kế (tourism and livelihood diversification strategy); sinh kế bền vững (sustainable livelihood strategy) trong du lịch và, trong chừng mực nào đó, một số khái niệm của lý thuyết hiện đại hóa (modernization).

Biến đổi văn hóa trong thực hành tín ngưỡng của cư dân vùng biển Cửa Lò

Lý thuyết “chức năng văn hóa” do B. Malinowski đề xướng thể hiện trong công trình Khoa học, và Tôn giáo và các bài luận khác, B. Malinowski nhấn mạnh đến các nghi lễ ma thuật của cư dân đảo Trobriand ở Thái Bình Dương dù được xem là đỉnh cao của sự ngu dốt và phi lý, nhưng có thể có tính hiệu quả về mặt tinh thần. Chẳng hạn như, khi cư dân quần đảo Trobriands đi đánh bắt ở các đầm phá, đó là một vấn đề dễ hiểu. Nhưng khi họ ra khỏi những rặng đá, ra khơi xa với những thay đổi thất thường và mối nguy hiểm, những ngọn sóng dữ, những cơn bão bất chợt, những mẻ lưới không đoán được và những khó khăn khác, họ thường dựa vào nghi lễ ma thuật để làm dịu bớt nỗi sợ và tiếp tục công việc. Khi ra biển đánh cá, độ rủi ro tăng cao và kết quả cũng bấp bênh hơn. Những ngư phủ Trobriand thường làm lễ và phù phép để trấn an chính mình về mặt tâm lí, mong được an toàn và được mẻ cá to [5; 202].

Du lịch trong mối quan hệ với văn hóa và nhân cách

Ngày nay các ngành khoa học và các lĩnh vực trong đời sống con người thâm nhập lẫn nhau, kết nối với nhau; biểu hiện trong đời sống ngôn ngữ xuất hiện cấu trúc các cụm từ: Tâm lý học sư phạm, tâm lý học văn học, tâm lý học chính trị, tâm lý học y học, tâm lý học nhân cách,... văn hóa Phật giáo, văn hóa tâm linh, văn hóa tộc người, văn hóa quốc gia, văn hóa vùng miền, văn hóa ẩm thực, văn hóa phi vật thể, văn hóa vật thể, văn hóa xây dựng, văn hóa du lịch, v.v...

Các nhà báo cần học tập ở Bác Hồ cách đặt tên cho bài báo

Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên của một bài báo chỉ cần dùng một vài từ thôi mà phải đạt được ba yêu cầu chính sau đây: Thứ nhất, là “tên bài báo phải thông báo được nội dung chủ yếu của bài báo đó” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập V, trang 220); Nghĩa là khi đọc nhan đề (tên) của bài báo, người đọc sẽ hình dung ra nội dung bao trùm, cốt yếu, vấn đề cơ bản, vấn đề chính, cốt lõi mà tác giả sẽ bàn trong bài báo đó. Chẳng hạn như trên báo Nhân dân số ra ngày 26/03/1953, Bác Hồ có bài báo tên là “Thanh niên ta rất gan dạ, anh hùng”. Khi đọc cái tên báo đó, người đọc sẽ hình dung trong bài báo này, Bác sẽ nói về các hành động, các tấm gương gan dạ, anh hùng của thế hệ trẻ Việt Nam thời kì ấy.

Khuôn viên nhà ở truyền thống của người Kinh ở Nghệ An

Trong văn hóa chung của cả nước, ngôi nhà truyền thống của người Kinh ở Nghệ An được sắp xếp trong bối cảnh sinh hoạt chung của làng, nó vừa riêng lại vừa chung, rất độc lập nhưng lại có thế hòa đồng. Những hàng rào, bức tường ngăn cách giữa đường đi, giữa nhà này và nhà kia tạo nên thế khép kín cho mỗi gia đình, nhưng lại được mở ra trong kiểu ứng xử chung của cộng đồng làng.

Gìn giữ, phát huy và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Không ít người thường nhấn mạnh yêu cầu bảo tồn, giữ gìn văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa. Điều đó đúng, cần thiết, song có lẽ chưa đầy đủ. Chúng ta hoàn toàn có thể phát huy, phát triển, hiện đại hóa nền văn hóa dân tộc trong quá trình trên. Bài viết này xuất phát từ suy nghĩ đó, mặc dù đó luôn là một thách thức lớn, đồng thời lại là một thời cơ hiếm có.

Một phương diện của tài năng Nguyễn Du

Lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Du hơn hai trăm năm qua cho thấy nói về tài năng văn chương và tấm lòng nhân ái của nhà đại thi hào này quả là chuyện nói mãi không cùng. Hôm nay chúng tôi muốn tiếp tục chủ đề trên từ khía cạnh thi hào đã dùng cùng một thể loại để viết về những giá trị cực kỳ đối lập và tất cả đều cùng ở trình độ siêu việt. Đó là thể loại văn tế với hai tác phẩm Chiêu hồn thập loại chúng sinh và Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu(1).

Trang phục cô dâu Việt xưa thường có màu gì?

Trang phục truyền thống dân tộc, xưa nay vẫn là một đề tài khó, nhưng cũng đầy hấp dẫn và bí ẩn. Đó cũng là đề tài mà bao người yêu mến văn hóa truyền thống đều khắc khoải, vì lẽ muốn hiểu rõ hơn về bản sắc cha ông, về cội nguồn văn hóa, thì tiếp cận qua con đường tìm hiểu trang phục xưa vẫn là một trong những cách thức khả thi nhất. Từ trang phục, có thể cung cấp rất nhiều thông tin quan trọng về thẩm mỹ quan, nhân sinh quan và các giá trị tư tưởng khác của người đời xưa, một cách rõ ràng, cụ thể và chân thực. Bao năm nay, người viết bài tập trung tìm hiểu về trang phục truyền thống, và muốn chia sẻ những hiểu biết và tìm tòi của bản thân mình tới tất cả mọi độc giả, cũng là vì lẽ đó. Bài viết dưới đây về trang phục cô dâu, nằm trong loạt bài sơ khảo về trang phục truyền thống người Việt.

Thầy mo - Người là ai?

1. Ngày 10/6/2019, Báo Người lao động đưa tin: “Vào khoảng 22 h ngày 9/6/2019, cụ Lô Văn Viên (80 tuổi, thầy mo ở bản Bà, Hữu Kiệm, Kỳ Sơn) chém ông Lô Văn Viên (con trai 48 tuổi) tử vong”(1). Trước đó, ngày 14/5/2019, Báo Nghệ An đưa tin: “Ông Vi Đình Hoa (61 tuổi, thầy mo ở xã Mậu Đức, Con Cuông) bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên phạt 15 năm tù vì tội giết người (con trai Vi Đình Tuyết)”(2). Trong ký ức của tôi hiện về hình ảnh các thầy mo những năm 50, 60 ở bản quê (Châu Quang, Quỳ Hợp) của thế kỷ trước. Đó là ông mo Thảnh ở bản Đôn, bà mo Tọa ở bản Mộng, ông mo Hơ ở bản Le, ông mo Àn ở bản Ảng, ông mo Nhân ở bản Na Xén, v.v. Tất cả họ, theo tôi quan sát/biết được, đều là những người “già bản” tốt, sống mẫu mực, gia đình ấm êm, sống giản dị, thanh đạm, tiết chế bản thân, hay giúp đỡ người khác,… Không hề có chuyện to tiếng, chửi mắng, đánh đập ai; gây án mạng thì lại càng không! Vậy mà bây giờ…

Để hiểu đúng nền khoa cử Nho học xưa

Nền khoa cử Nho học xưa với khoa thi đầu tiên vào năm 1075 chấm dứt với khoa thi cuối cùng vào năm 1919. Trong 844 năm tồn tại đã có 2890 vị đại khoa tính từ Phó bảng trở lên trong đó có 47 Trạng nguyên. Dưới thời vua Lê Thánh Tông đã dựng bia Tiến sĩ tại Văn miếu Quốc Tử giám ở Hà Nội. Dười thời nhà Nguyễn, kinh đô dời vào Thuận Hóa thì tại Huế cũng có bia Tiến sĩ. Một nhân vật tinh hoa từng đi qua trường thi Nho học đó là Chu Văn An bao đời nay đã được thờ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám với tư cách là sư biểu của quốc gia.

Cảm quan hậu hiện đại về thế giới hiện thực trong tiểu thuyết của Milan Kundera

Milan Kundera là một trong những hiện tượng độc đáo đáng được chú ý trong văn học Châu Âu hiện đại. Nhà văn Tiệp Khắc nổi tiếng Bomihur Herabar ca ngợi người đồng hương của mình - Milan Kudera - là một thân sĩ giỏi giang, một nhà tiểu thuyết xuất sắc, một nhà nghệ thuật sáng suốt sâu xa, thăm dò tầng sâu của thế giới đạo đức. Kundera còn được đánh giá là một trong những nhà văn hàng đầu của văn học Hậu hiện đại phương Tây, là “nhà văn uyên bác nhất hành tinh” (Russell Banks) và “hoàn toàn có tố chất và năng lực chen mình vào hàng ngũ nhà văn ưu tú nhất thế giới. . Tác phẩm của Milan được rất nhiều độc giả trên thế giới hâm mộ bởi nó là kết tinh của những vấn đề nóng bỏng của thời đại. Ông được ví như một người cuối thế kỉ nhìn lại hành trình dài mà loài người đã trải qua. Trong tiểu thuyết của M.Kudera, cảm quan hậu hiện đại khắc dấu rõ nét ở cả nội dung và hình thức.

Tích tụ, tập trung đất đai cho phát triển nông nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện mới

Tóm tắt: Kể từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới, nền nông nghiệp Việt Nam đã có những thay đổi lớn và đạt được nhiều thành tựu phát triển. Tuy nhiên, đó vẫn là nền nông nghiệp của một nước đi sau, với nhiều hạn chế: phương thức và tổ chức sản xuất lạc hậu; quy mô sản xuất nhỏ, chủ yếu là kinh tế hộ gia đình, thiếu khả năng cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ cao khiến cho năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng của các sản phẩm nông nghiệp không cao... Do vậy, tích tụ, tập trung đất đai được coi là một trong những giải pháp đột phá giúp phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn, đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam trong giai đoạn mới. Từ khóa: phát triển nông nghiệp, tích tụ, sở hữu, tập trung đất đai, Việt Nam.

 1   2   3   4   5   6   7   8   9    » Tiếp    » 

 
THƯ VIỆN KHXH&NV
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
“Múa hai bàn tay” - Tập thơ dành cho các bạn nhỏ
 
VIDEO CLIPS
Loading the player...
 
TƯ VẤN - HỎI ĐÁP
Cho tôi hỏi :ở xã thương xá huyện chân phúc cũ nay là xã nghi hợp huyện nghi lôc tỉnh nghê an có dòng họ nguyễn văn không. chúng tôi là thế hệ thứ tám họ nguyễn văn sống ở bìnnh chánh bình sơn quảng n ...
Xem tiếp
Tôi muốn tìm hiểu lịch sử thành lập nông trường Cờ đỏ ...
Xem tiếp
< Xem toàn bộ >
 
 
THÔNG KÊ TRUY CẬP
Hôm nay: 451 | Tất cả: 2,321,327
 
Trang chủ | Giới thiệu | Tin tức | Diễn đàn | Nghiên cứu KHXH&NV | Đất và người xứ Nghệ | KHXHNV & Đời sống | Chuyên san |
 
Cơ quan chủ quản: Sở KH&CN Nghệ An
Địa chỉ: 75 - Nguyễn Thị Minh Khai - Tp Vinh - Nghệ An
Cơ quan trị sự: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Nghệ An
Địa chỉ: 126 Lý Tự Trọng - Hà Huy Tập - TP Vinh - Nghệ An 
Điện thoại: 038.3587.231 - Hotline: Điện thoại: 0982.431.180 và 0983.48.43.46
Email: khxhnvna@gmail.com - Website: http://khxhnvnghean.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Th.S Nguyễn Thị Minh Tú - Giám đốc Trung tâm KHXH&NV Nghệ An
Giấy phép thiết lập số: 63/GP-TTĐT, ngày 16 tháng 5 năm 2016 do Sở TT&TT cấp